Skip to content

Giáo sư phiêu lưu ký: Singapore

Tuần vừa rồi tôi ở Singapore, thăm đai học NUS.

Singapore thì đã rất nhiều người đi và biết rất rõ, nên tốt nhất là chả nên tả cái gì. Các bạn đồng nghiêp ở Sing hiếu khách, mời đi chén liên miên. Tiện tay ghi lại một vài cảm nhận từ các bữa này.

(1) Phần lớn người Sing là gốc Tàu, nói tiếng Tàu với nhau. Nhưng giữa họ có sự phân biệt. Các chức vụ quan trọng xem ra phải do người Tàu đã ở Sing nhiều đời nắm giữ. Vì một lý do nào đó, người Sing rất coi trọng quốc phòng. Thanh niên hết trung học phải vào quân đội 2 năm, giống như chế độ ở Hàn Quôc và Israel. Cái khác là hai nước trên có đối thủ luôn đe doạ rất rõ ràng, còn Singapore có vẻ như không ở trong tình thế ấy (?).

Trong bữa chén thứ nhất, một đồng nghiệp người Tàu than thở là con anh ấy đang phục vụ trong quân đội, nó thích lái xe tăng, nhưng mà không được tuyển, vì bố nó, tức là đồng nghiệp đáng kính kia, là Tàu nhập cư. Tức là đến đời cháu may ra mới lái xe tăng được.

(2) Đường phố ở Sing sạch kinh hoàng, giao thông xây dựng qui hoạch rất ổn, bệnh viện tốt mà chi phí lại thấp. Cái đó đã nhiều người khen. Khen thêm một tí là họ làm tất cả những thứ ấy với một mức thuế thu nhập gần thấp nhất thế giới (cỡ trung bình độ 12%).

Đã sach đẹp như thế, nhưng chính phủ rách việc vẫn tìm cách cải thiện. Dự án lớn, do một quan chức của trường, trong bữa chén thứ 2, tiết lộ, là họ đang nghiên cứu làm sao giảm nhiệt độ toàn thành phố xuống 4 độ C (ở Sing hiện hơi nóng). Nhiệt độ ngoài đường chứ không phải trong các toà nhà, vốn đã được điều hoà gần như liên tục. Một phương án là sơn lại tất cả các con đường và mái nhà bằng màu sáng và loại sơn đặc biệt không hấp thụ nhiệt.

(3) Bữa thứ 3 có năm người, 4 anh châu Á và một anh Tây. Cả 4 anh châu Á đều nghiền chưởng Kim Dung (tât nhiên bằng ngôn ngữ khác nhau), chỉ có Tây trình kém là nghe lơ ngơ không hiểu gì. Open problem đặt ra là tại sao nam giới lại thích chuyện chưởng ? Có phải vì đàn ông thích đánh nhau ? Cái này chả phải, như mình đây là người cực yêu hoà bình. Hay họ thích khám phá các đại án rắm rối phức tạp ? Chắc cũng cóc phải nốt. Hơi đâu.

Câu trả lời đạt điểm cao nhất thuộc về một đồng nghiệp ở khoa kinh tế. Theo anh này, nếu ta chú ý, tất cả các nhân vật nam chính trong truyện Kim Dung đều xuất thân nhà nghèo, đời sống vất vả, còn các nhân vật nữ chính, người yêu tương lai của họ, chẳng những quốc sắc thiên hương, mà đều con nhà quyền quí, cành vàng lá ngọc. Các anh nam chính đang yên lành làm thuê làm mướn, một ngày đẹp trời đi đào sắn lại xơi phải nhân sâm ngàn năm, tự dưng có nội công ngăn sông bạt núi. Rồi ở hiền gặp lành, tự dưng vớ được bí kíp độc đáo trong đống sách cũ (qua đây có thể thấy rõ lợi ích của việc đọc sách), hoặc ra đường tự dưng gặp kỳ nhân chỉ bảo, chẳng mấy chốc có tuyệt kỹ hàng long phục hổ. Thế rồi đi ra đường, tự nhiên gặp nhân vật nữ chính, vừa xinh lại vừa quí, đúng lúc bị đầu gấu trêu ghẹo…. Vài ba cái tự nhiên như vây, làm cho độc giả cảm thấy như cuộc đời như có tia hy vọng 🙂

(4) Đến bữa thứ tư thì vấn đề thứ nhất là không thể ăn được nữa. Các đồng nghiệp tốt bụng thết khách kiểu Quảng đông mỗi bữa rât nhiều món, trong một bữa mỗi người dùng số lượng bát đĩa đủ cho một gia đình 4 người và 2 con mèo, và món nào cũng có vẻ rât bổ (mặc dầu ăn xong không thấy võ công lên tý nào, chỉ thấy bụng có vẻ nặng nặng).

Câu hỏi lớn của bữa này là đàn ông thời hiện đại và trung cổ ai dũng cảm hơn ? Các quan khách đi đến sự nhất trí là đàn ông thời chúng ta đang sống là dũng cảm nhất. Trong các chuyện cổ tích, ngày xủa ngày xưa các hiệp sĩ (tất nhiên đại diện cho sự dũng cảm) chiến đấu tay đôi với sư tử (hoặc hổ, báo, rồng vv, tuỳ theo văn hoá mỗi nước) để giải cứu (và sau đó kết hôn) công chúa.

Các hiêp sĩ thời hiện đại kết hôn luôn với sư tử.

Disclaimer: Người viết bài này không phải là hiệp sĩ. Để cho chắc ăn, anh cũng không quen ai là hiệp sĩ.

 

 

 

 

 

 

 

 

Advertisements

Kung-fu tốt,kung-fu xấu

Người Việt ta ít nhiều đều đọc chuyện chưởng, hay xem phim kiếm hiệp. Dĩ nhiên của Tàu.

Cuối những năm 80,và trong thập kỷ 90, thời mở cửa, các văn hoá phẩm này ồ ạt tràn sang. Từ phim lẻ  vài ba tiếng đến phim bộ, loại có thể xem từ lúc con bạn còn ị đùn đến lúc nó  lấy vợ  (thời gian này có thể thay đổi từ 3 đến 30 năm,  theo từng gia đình),  rồi các loại truyện ngắn truyện dài  đủ cả.

Mặc dầu thể loại biến đổi,  nội dung các văn hoá phẩm này tương đối giống nhau. Công phu đã tuyệt đỉnh,  kiếm khách lại đa tình. Thôi thì tha hồ mà yêu đương nức nở. Nhưng đến màn kết thì kiểu gì thì kiểu, anh kung-fu tốt phải đánh lăn quay anh kung-fu xấu. Xấu đây không phải là xấu giai, mà là tư tưởng anh có vấn đề, nên ku loay hoay tập luyện kiểu gì cũng không thành cao thủ nhất lưu được.

Điểm đặc trưng ở đây là cả  hai anh fu tốt và fu xấu, phần nhiều đều cùng là người Trung Quốc.  Cao thủ chùa Thiếu Lâm, Võ Đang tỷ thí, giang  hồ hai bên bờ sông Trường Giang tranh hùng, rốt cuộc đều là Tàu đánh lẫn nhau cả.

Theo dòng thời gian, Trung Quốc trở thành một quốc gia mạnh mẽ,  tăng dần ảnh hưởng ra bên ngoài. Dòng văn chương, phim ảnh này cũng khác đi. Anh fu tốt, nhất đinh vẫn phải là người Trung Quốc xịn, nhưng vai fu xấu, giờ thường đã được chuyển sang cho các  võ sư đại diện cho các thế lực hắc ám đến từ phương Tây, hay trong một vài trường hợp, Nhật Bản. Dễ thấy nhất là sự thay đổi trong các phim của Thành Long từ những năm 70-80 đến nay.

Tôi có một đồng nghiệp Trung Quốc,  lâu lâu mới gặp. Gọi là Trung Quốc, thật ra anh này sống ở Mỹ từ giữa những năm 80, học xong đại học là đi ngay, tính tình rất dễ chịu.   Anh quan tâm đến tình hình quốc tế khá nhiều. Ngồi ăn tối, anh kể chuyện theo dõi đại hội (của Việt Nam hồi đầu năm), phân tích ông này cụ kia không kém gì BBC tiếng Việt. Chuyện đã đến đấy, thì rất dễ nhảy sang vấn đề biên giới. Nhưng nếu một bên cứ gọi là biển Nam Hải, bên kia  khăng khăng là biển Đông, thì cá rán sẽ dễ bị nguội ngắt ra không ai ăn. Chuyển qua chủ đề đại cương hơn, là các đường biên giới ở châu Á nói chung, anh có một lý thuyết khá thú vị là các nước phương Tây, trong quá khứ, cố tình chia một số đường biên giữa các nước châu Á  một cách mập mờ, để các nước trong cuộc tranh giành gây hấn với nhau không nguôi (?!).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhân vật lịch sử: vua Lê Thái Tông

Vì truyền thuyết có lẽ rất khó tin của cụ rùa đòi kiếm, thành ra vua Lê Lợi tự dưng gắn với hồ gươm.  Nên bây giờ trên mạn đó có rất nhiều phố người nhà  Lê.

Hai phố to nhất là hai cụ vua: Lê Thái Tổ  và Lê Thánh Tông. Phố Lê Thái Tổ chạy dọc hồ ra đến Tràng Thi. Còn phố  Lê Thánh Tông cũng bắt đầu từ Tràng Thi, chỗ nhà hát lớn.  Dĩ nhiên cả hai  phố đều là  đất vàng đắt kinh hoàng.

Về mặt gia phả mà nói, cụ Lê Thái Tổ (Lê Lợi) là vua ông, cụ Lê Thánh Tông là vua cháu. Cái gạch nối ở giữa, là ông vua con, lại không có phố.

Ông vua con đây chính là vua Lê Thái Tông, mà cuộc đời rất ngắn nhưng vô cùng đặc biệt.

Vua Lê Thái Tông làm vua vỏn vẹn có 9 năm, từ lúc ông 10 đến lúc 19 tuổi. Trong lịch sử, vua bé con mà lại mất sớm như thế,  nhiều khi do các quyền thần dựng lên và dẹp đi, vì mục đích cá nhân của họ.

Kịch bản lên ngôi của vua Lê Thái Tông có lẽ cũng bắt đầu như thế. Sau khi đuổi được giặc Minh lên làm vua, Thái Tổ Lê Lợi  có con lớn là Tư Tề,  đã trưởng thành, từng tham gia chiến trận.  Ông này đã  được lâp lên làm giám quốc, thay bố cai trị đất nước. Vì một lý do nào đó, Lê Thái Tổ bỏ Tư Tề, lập con thứ là Nguyên Long làm thái tử. Đây  là kết quả của cuộc tranh giành quyền lực đầu tiên nhà Hậu Lê, khởi đầu cho những cuộc tranh giành khác kéo dài cả mấy chục năm và dẫn một thống kê thú vị là nghề rủi ro nhất trong thời gian đầu nhà Lê không phải là là nghề mò ngọc trai hay săn thú dữ mà là nghề làm thái úy.

Hoàng tử Nguyên Long được sự ủng hộ của Lê Sát, Lê Ngân, Phạm Vấn;  Tư Tề có hậu thuẫn từ Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo. Cả năm người đều là khai quốc công thần hạng nhất của nhà Lê.  Kết quả phe  Lê Sát thắng; nhiều nhà sử học cho cuộc tranh chấp này là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của cả Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo.

Hoàng tử Nguyên Long lên ngôi năm 1433, tức vua Lê Thái Tông, lúc có 10 tuổi. Phạm Vấn mất sớm, quyền lực tập trung vào tay Lê Sát. Con gái ông được lâp làm nguyên phi. Các tướng Lam Sơn thân với Lê Sát như Lê Ngân, Lê Văn Linh, Lê Ê đều giữ địa vị quan trọng trong triều.  Những người không ăn cánh với ông  kẻ bị thủ tiêu, người bị cách chức hay đẩy đi các tỉnh.

Kịch bản đến đây giống như các sách cổ. Nhưng nó thay đổi rất nhanh,  ngoài sự dự liệu của cả  những người trong cuộc.  Năm 1437, nhà vua 14 tuổi. Tuổi này trẻ con ở Mỹ chưa được luật pháp cho phép ở nhà một mình; ở Việt nam thì nhiều bạn còn bắt bố mẹ mặc quần áo. Năm 1437, vua Lê Thái Tông giết cả hai đại thần Lê Sát và Lê Ngân.

Đầu tiên nhà vua gọi Trịnh Khả từ tỉnh ngoài về chỉ huy cấm binh ở kinh đô. Trịnh Khả là người bị Lê Sát đẩy ra ngoài vì không cùng cánh. Lê Sát  vào cung tâu với nhà vua lo là Khả sẽ hại mình. Nhà vua không nói gì. Ba ngày sau Lê Sát bị bắt, con gái đang làm nguyên phi bị giáng làm thứ dân. Đến tháng 7 năm đó, Lê Sát bị kết tội, buộc phải tự sát.

Chức của Lê Sát được trao cho Lê Ngân, con gái ông này được tuyển làm nguyên phi thay con gái Lê Sát.  Đó chỉ là một nước cờ của ông vua 14 tuổi,  có lẽ nhằm ly khai hai viên đại thần này mà thôi.  Bản án giành cho Lê Ngân cũng đã được viết rồi.

Tháng 11 cùng năm, Lê Ngân cũng bị bắt và buộc phải tự sát, con gái  bị giáng làm cung nữ.  Tội danh của ông có lẽ là tội danh đặc biệt nhất thời đó. Lê Ngân bị buộc tội là cúng bái trong nhà để cho con gái được vua yêu.  Thật là một bài học đáng ghi nhớ cho các ông bố vợ. Triều thần có phần bức xúc vì sự lạm quyền của Lê Sát, nhưng đến Lê Ngân thì không ít người cam chịu sự trừng phạt của nhà vua, mà nói thẳng là ông bị oan.

Cầm quyền trong tay, Lê Thái Tông tỏ ra là một ông vua vững vàng trong nhiều lĩnh vực. Năm 1438, ông chỉnh đốn lại việc thi cử, lâp ra lệ tuần tự thi hương 5 năm một lần, thi hội 6 năm một lần. Năm 1942, mở khoa thi tiến sĩ. Tục khắc tên tiến sĩ vào bia Văn Miếu bắt đầu từ đó. (Bây giờ tiến sĩ hơi nhiều, đá thì đắt nên  tục này phải bỏ.)  Năm 1439 và 1441, nhà vua thân chinh cầm quân bình định miền Tây Bắc, dẹp yên nhiều cuộc chống đối được người Lào hậu thuẫn.

Năm 19442, Lê Thái Tông mới 19 tuổi  mất đột ngột tại Lệ Chi Viên, kéo theo sự thảm sát của gia đình Nguyễn Trãi.

Nhà vua có bốn con trai. Bang Cơ mới 2 tuổi được lâp làm thái tử, tức vua Lê Nhân Tôn. Thời gian ông làm vua, thái uý Trịnh Khả bị giết. Năm 1459, nguòi anh khác mẹ là Nghi Dân làm binh biến giết  vua Nhân Tôn. Nghi Dân làm vua được chưa đầy một năm. Cuộc đảo chính đầu tiên của các đại thần Lê Thụ,Đỗ Bí thất bại, những nguòi này chịu nạn. Chỉ vài tháng sau, Đinh Liệt và Nguyễn Xí, những cận vệ cuối cùng của Thái Tổ Lê Lợi còn sót lại, cùng thái uý Lê Lăng đảo chính thành công. Nghi Dân chết. Lê Lăng muốn lập hoàng tử Khắc Xương lên ngôi, nhưng ông này từ chối. Hoàng tử cuối cùng là Tư Thành được lập làm vua Lê Thánh Tông. Sau đó không lâu, Khắc Xương và Lê Lăng bị giết. Thời kỳ văn trị của nhà Lê bắt đầu.

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhật ký Yale: Giải mã Enigma

Tuần này khoa toán có một buổi nói chuyện đặc biệt. Khách mời là David Saltman, giám đốc của một trong ba trung tâm nghiên cứu của IDA (Institute for Defence Analysis), một dạng CIA công nghê của chính phủ.  Bác Saltman ngày xưa làm tiến sĩ toán tại Yale, và đi dậy học một thời gian khá dài. Trong một ngày đẹp trời, tinh thần ái quốc nổi lên, bác đầu quân cho IDA. Thật ra ở IDA các chuyên viên cũng làm toán, nhưng làm toán gì thì cóc được nói ra ngoài. Cũng như ca sĩ sáng tác nhạc chỉ được hát cho nhau nghe.

Vì không được nói cái bác đang làm, bác nói về cái ngừoi khác làm. Cụ thể là chương trình giải mã Enigma.

Enigma quá nổi tiếng, nó là máy mã hoá của Đức trong thế chiến thứ hai. Để buổi nói chuyện thêm xôm, bác S. đem đến  một máy  Enigma xịn, tài sản của IDA, nặng như cùm.  Quá trình giải mã Enigma bạn chắc đã xem qua bộ phim The Immitation Game  gần đây, với  anh  Benedict Cumberbatch  đẹp giai và  cô Keira Knightley eo thon. Phim kể về công trình của Alan Turing, nhà toán học lừng lẫy người Anh, và nhóm của anh, đã phá mã Enigma thành công. Theo giới sử học Anh-Mỹ, công trình này đã giúp kết thúc chiến tranh sớm hai năm, và tránh được cái chết cho hàng triệu người.

Chỉ có điều, Turing không phải người đầu tiên làm được điều đó.

Chuyện của Saltman hướng về  một nhóm nhà toán học người Balan, dẫn đầu bởi Marian Rejewski, đã phá mã Enigma thành công từ những năm 30s, 10 năm trước nhóm của Tủring. Đã có những giai đoạn nhóm này có thể đọc được 75% các trao đổi của quân đôi Đức, đáng tiếc công trình của họ không giúp cho quân đội Balan, với trang bị kém hơn hẳn và phải thụ địch từ cả hai phía, tránh khỏi thảm bại. Lịch sử, dĩ nhiên được viết bởi nước thắng cuộc.

Trong quá trình giải mã, Rejewski và đồng đội có một số ý tưởng rất thông minh. Một ví dụ là mật mã sau:

TYUE MHJU STKJ ITHY QURE XCDF ZSAI NHJM KOPH XCVB BFYT ĐHIU QPOK ÁZXD MING

CTUO OKPO ẺKGU VBGI HINU NHHJ SDAW QECU EKMH JPOY TVFG SEEG VGUI MFDX

Quá trình mã hoá dựa trên các hoán vị của 26 chữ cái.  Cái hiểm hóc của Enigma là mỗi lần bấm một chữ cái mới trong bản tin cần chuyển, máy sẽ mã hoá chữ này bằng một hoán vị mới. Chẳng hạn thông tin (nhậy cảm)  BEO, sẽ được mã hoá thành p(B) q(E) r(O), trong đó p,q,r là ba hoán vị khác nhau do máy Enigma tự làm ra vào thời điểm gõ chữ.

Tất nhiên, vì  sinh ra bởi  máy, các hoán vị P,Q,R không phải ngẫu nhiên. Một đặc điểm của Enigma, do cơ chế cơ khí của nó,  là tất cả các hoán vị do nó sinh ra gồm các cập chữ đảo cho nhau, chẳng hạn nếu p(B)= G, thì p(G)= B, q(E)= A thì q(A)= E, r(O)= Y thì r(Y)= O vv. Vì vậy không có chữ nào được hoán vị với chính nó.  Bạn có thể thấy trong mật mã trên không có chữ L nào. Điều đó cho thấy khả năng rất cao là đoạn văn chưa mã hoá gồm toàn chữ L (dĩ nhiên do nhân viên điện đài gõ chơi để thử máy). Đoạn văn này chả có nội dung gì, nhưng một khi biết cả đoạn chưa mã hoá và đoạn đã mã hoá, thì khả năng đoán được mã là khá cao.

Các hoán vị của Enigma được thay đổi hàng ngày, bằng cách quay 3  trục trên máy. Các trục sẽ đứng vào một tổ hợp cố định trong ngày. (Trong thực tế tổ hợp  này là 3 số, tôi sẽ dùng các chữ cái cho dễ diễn đạt.) Chẳng hạn các trục được xét ở vị trí RU-AB-AT  thì trong ngày hôm đó máy sẽ mã hoá một kiểu, nếu hôm sau trục để theo vị trí khác, như DO-NC-ON, máy sẽ mã hoá theo kiểu khác. Trong phim The Immitation Game, nhóm của Turing phải giải mã  từng ngày, tức là họ tìm cách đoántổ hợp trục của ngày hôm đó, có ngày tìm được, có ngày không. Nhưng  Keira thì hôm nào  cũng xinh.

Trong một thời gian dài, nhóm toán học Balan đoán rất thành công tổ hợp  này.  Thành công này, trớ trêu, được tạo nên bởi sự cẩn thận của người Đức. Các anh Đức, để tăng thêm phần khó cho đối phương, quyết định là mỗi thông tin gửi đi phải được dùng một tổ hợp  trục khác nhau. Tổ hợp này được gửi ở đầu đoạn văn, nhân viên mật mã đọc nó ra bằng tổ hợp của ngày, sau đó chỉnh máy vào tổ hợp trục mới để giải mã, giải xong lại quay máy lại vào tổ hợp của ngày như cũ.  Hiển nhiên đây là một tầng bảo mật mới.

Vấn đề ở chỗ, để cho  chắc ăn,  người Đức gửi tổ hợp trục  mới hai lần ở đầu đoạn văn, đề phòng khi thông tin bị nhiễu (cũng như khi để số ĐT cho ai đó trên băng ghi âm, bạn nhắc lại hai lần). Thông điệp gửi đi  sẽ trông thế này

LA-UN-HA LA-UN-HA   HOM NAY THONG CHE ĐAU BUNG.

Dĩ nhiên, người Balan không nhìn thấy thông điệp này, họ chỉ bắt đươc bản mã hoá thôi.

TI-PU-CV CG-ON-DF   LKJ NHU TTYDF GIO LPY BGTI

Cái mà họ biết, là 12 chữ cái đầu tiên là mã hoá hai lần liền của cùng  một tổ hợp. Nếu  các hoán vị Enigma đã dùng là p_1, p_2,p_3……., thì có nghĩa là p_1(T)= p_7 (c), p_2 (I)= p_8 (G) vv. Nhờ thông tin này, và một số kiến thức về sự vận hành của máy, và tất nhiên, một phần may mắn, họ tìm ra được tổ hợp của ngày, và qua đó đọc hết các trao đổi của đối phương ngày hôm đó. Đáng khâm phục hơn, khác với nhóm Turing, nhóm này không có một máy Enigma nào của quân đội Đức. (Họ biết nguyên lý hoạt động của máy và có thể có một Enigma cũ hơn; Enigma được dùng vào mục đích dân sự từ những năm 1920.)

Các ý tưởng của nhóm Balan được Turing và đồng đội sử dụng và phát triển khá nhiều. Chính phủ  Balan  bất bình vì trong bộ phim The Immitation Game (và nhiều tư liệu khác), chiến công của nhóm Rejewsky chỉ được nhắc rất qua loa. (Trong phim IG chỉ có một câu thoại  nhắc đến họ.)  Balan đang có một phong trào lobby cho việc đề cao công lao của nhóm này.

Về con số 2 năm và mấy triệu người, mình đoán các sử gia ngây ngất men chiến thắng cũng hơi nói quá lên một chút. (Tổng số thiệt hại của Anh trong cả cuộc chiến là 450.000 người; của Mỹ còn ít hơn một chút.) Không nhớ  có chiến dịch hay trận đánh lớn nào mà việc giải mã  qua Enigma có vai trò bản lề ? Một số nhận định cho thấy vai trò việc giải mã quan trọng nhất trong việc đánh đắm một số lớn tàu chở nguyên liệu của đối phương. Rommel phải chịu thất bại và rút khỏi Bắc Phi một phần vì xe tăng hết xăng.

Còn cái máy Enigma, đúng là đồ nồi đồng cối đá của Đức, sau hơn 60 năm vẫn hoạt động một cách rất ổn, bấm đâu chạy đấy.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Một số ý kiến về thi trắc nghiệm

Trần Nam Dũng-Hà Huy Khoái-Vũ Hà Văn

 

(Bài đăng trên báo Thanh Niên, với tít mới của toà soạn.)

Gần đây dư luận tập trung nhiều vào việc bộ giao dục tổ chức thi trắc nghiêm môn toán vào năm học tới.

Có khá nhiều ý kiến phản biện quyết định này. Có hai ý chính thường được nhắc tới. Thứ nhất, kỳ thi tổ chức ngay năm tới là quá cập rập. Thứ hai, bản thân thi trắc nghiệm không phải là một cách thi tốt.
Chúng tôi muốn nêu một vài ý kiến về vấn đề thứ hai. Theo chúng tôi, nếu được chuẩn bị tốt (xin nhấn mạnh chữ “nếu”) thì thi trắc nghiệm có khá nhiều ưu điểm. Một số ưu điểm chính như sau:
(1) Đây là hình thức thích hợp khi số người đạt chuẩn chiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng số thí sinh. Kỳ thi tốt nghiệp là một kỳ thi như vây. Mục tiêu của nó không phải để tìm ra những học sinh có năng khiếu nhất về toán; đã có nhiều cuộc thi khác cho mục tiêu này.
(2) Ưu thế của thi trắc nghiệm là nó kiểm tra được kỹ năng suy đoán, ước lượng, và quyết định nhanh của thí sinh. Những kỹ năng này là những kỹ năng cơ bản mà mỗi người cần có khi “vào đời”, có thể quan trọng hơn là kỹ năng giải được một bài toán đầy đủ từ A đến Z.
(3) Không nên lo ngại “học vẹt, học thuộc”, vì nếu thí sinh “học thuộc” mà làm được đủ dạng bài tập thì hoàn toàn xứng đáng đạt chuẩn. Ngoài ra, đối với môn Toán, nếu không hiểu bản chất, thì khó lòng học thuộc được hết kiến thức, bởi một bài toán cơ bản (như giải hệ phương trình bậc nhất) có thể được thể hiện ở dưới rất nhiều dạng. Một số ý kiến sợ rằng học sinh đoán mò, nhưng đoán chỉ trúng với tỷ lệ 1/4, tức là sẽ dưới điểm chuẩn rất nhiều.
(4) Viêc chấm thi hết sức nhanh và nhẹ nhàng. Tránh được yếu tố chủ quan, thiếu công bằng . Ưu điểm này vượt trội so với chấm thi tự luận.

Vấn đề vướng mắc chính có lẽ là khâu ra đề. Nếu ra đề không tốt (như một số “đề mẫu” hiện thấy trên mạng) thì thí sinh có thể dùng máy tính cầm tay casio làm thay. Ở Mỹ, nơi mà thi trắc nghiệm được dùng phổ biến, ra đề là cả một ngành công nghiệp. Có các công ty chuyên sản xuất đề cho các cuộc thi lớn như SAT hay TOEFL.
Ngay cả một số kỳ thi học sinh giỏi cũng dùng thi trắc nghiệm (mặc dầu điều này hãn hữu hơn). Ví dụ là thi AMC cho học sinh các năm dưới. Một ví dụ khác là cuộc tuyển chọn ứng viên làm tiến sĩ tại Mỹ của chương trình VEF (năm đầu tiên). Một trong những tác giả bài viết này (HHK) được mời tham gia việc tuyển chọn ứng viên cho học bổng của Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEF) năm đầu tiên, và được phía Mỹ cho xem các đề trắc nghiệm họ sẽ dùng, với đề nghị thêm 20 câu cho thích hợp với chương trình VN. Có thể thấy đề của họ rất hay, phải nắm vững kiến thức mới làm được, không phải là chỉ cần học thuộc. Sau khi đã bổ sung thêm 20 câu trên tinh thần tương tự và phù hợp với chương trình đã học của sinh viên VN, kết quả là, những thí sinh đạt điểm trắc nghiệm cao nhất cũng chính là những thí sinh được đánh giá cao nhất khi phỏng vấn.
Việt Nam cần xây dựng một ngân hàng đề đủ tốt, được trải qua kiểm định nghiêm khắc về chất lượng. Việc này có lẽ cần thời gian và nhiều công sức, vì thế có thể nên cân nhắc việc thi ngay trắc nghiệm môn Toán. Học sinh cũng cần làm quen với cách thi này trong trường phổ thông, qua các kiểm tra đinh kỳ. Khi cả học sinh, giáo viên và phụ huynh đã hiểu rõ cuộc thi và có chuẩn bị tốt về kỹ thuật và tâm lý, kỳ thi sẽ dễ đạt được mục đích đặt ra hơn.

Đi đón ông Tây

Ông Tây rất to vừa qua thăm Việt Nam.

Ông đã xa Hà Nội vài ngày, nhưng dân tình còn lao xao. Chẳng phải lao xao vì những phát biểu của hai bên, hay  quan hệ Pháp-Viêt đã được đẩy lên “tầm cao mới”. Việc đơn giản hơn nhiều.

Số là nhà nước ta đãi ông tổng thống Pháp ăn trưa. Trong bữa có dùng rượu. Dân mạng tinh như ranh, soi ngay ra là vang Úc, hình như cũng là loại bình dân. Thế là lao xao. Nhiều người  bảo bộ ngoại giao  rất sơ xuất, người Pháp mà lại thết vang Úc, như thế là khinh thị người ta. Hoặc giả ai đó muốn xỏ ngọt phái đoàn Pháp….

Chẳng ai phải có lỗi gì cả. Có chăng là người Việt chúng ta qúa hiếu khách mà thôi. Ông tổng thống sang, đã có thảm đỏ sân bay, nghi thức quốc gia trịnh trọng. Ông thích đi chơi phố cổ, được toàn trí thức tinh anh tháp tùng, chẳng phải đã quá là thịnh tình ?  Bữa trưa bài trí lịch sự, thức ăn ngon lành toàn đặc sản, ăn xong không có ai đau bụng. Với tình hình vệ sinh thực phẩm như hiện tại đã là một cố gắng không nhỏ. Còn ông tổng thống Pháp chắc uống rượu Pháp chán ra rồi, cho uống thứ khác, khéo ông lại thích. Kể ra đồ uống Việt Nam là tốt nhất. Rượu thì chả biết, nhưng bia Sài gòn cổ rụt mình vừa được giới thiệu uống rất được, hơn hẳn cái anh Côrona nhạt nhạt đang thời thượng vừa uống vừa phải vắt chanh. Dáng chai lại rất quê hương, hơi lùn tý, đậm đậm, không được dài, nhưng rất xinh.

Về phần ông tổng, thì performance  cũng có vẻ bình thường, còn lâu mới so được với đồng nghiệp người Mỹ nhanh nhẹn  lẩy Kiều   mấy tháng trước.  Câu nói được trích nhiều của ngài, đại loại là  “..Hà nội có nhiều điểm giống Paris…” gì đó,  nghe hơi đãi bôi. Người biết lịch sử Pháp-Việt, cùng với nó sự hình thành của Hà Nội, thì chẳng cần đến cả Hà Nội lẫn Paris, ngồi nhà cũng phán  được là hai thành phố có nhiều điểm giống nhau. Gía ông nói câu ấy ở phố Tràng Tiền hay Bà Triệu, thì nghe còn đắc địa. Nhưng  phố cổ, thì chẳng thấy nó giống (ít nhất là những chỗ đặc trưng nhất) Paris là mấy. Ngay cả Paris quận 13 cũng không giống nốt. Thành ra phảng phất như là ngài học thuộc bài từ  nhà. Dù vậy phái đoàn vẫn nhẹ nhàng bán được 6,7 tỷ tiền máy bay. Mặc dầu doanh thu kém hẳn so với đồng nghiêp Hoa Kỳ, nhưng cũng không phải là nhỏ. (VTV gần đây đưa tin hoan hỉ là hoa quả xuất khẩu toàn quốc, chắc phải là công sức của cả vài trăm nghìn nông dân,  đã gần đạt mức 2tỷ/năm.)   Người Hà nội, Sài gòn đi đón ông đều vui vẻ nồng nhiệt. Như vậy thật cũng đáng hài lòng lắm rồi. Chỉ có người Việt mình vẫn không hài lòng với nhau, mới lạ.

Hiếu khách thế này, các ông Tây còn tranh nhau sang Việt Nam dài dài. Tây đón nhau, xem ra không được quá trịnh trọng  như thế. Các quan chức to uỳnh, thậm chí nguyên thủ, đến nói chuyện ở Yale khá thường xuyên, năm nào cũng có. Học sinh nếu được nghỉ học thì còn đi nghe, còn các đồng nghiệp đáng kính cứ nằm ườn hết ra, chẳng mấy quan tâm. Anh nào rách việc mò đi, thì rất không chịu tập trung nghe lời gang thép, lại cứ chăm chăm đợi xem ông to có nói hớ câu nào, đem về cười với nhau, thái độ vô cùng không nghiêm túc. Nếu có chấm điểm, hẳn không bao giờ được chiến sĩ thi đua.

Còn rượu thì chắc chỉ cỡ hai chục một chai, nếu mua sỉ ở Costco dịp hạ giá, khéo chỉ còn 12 đồng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giáo sư phiêu lưu ký: Một thoáng Bordeaux

Tháng 4 vừa qua tôi qua Bordeaux họp một hội nghị về số học tổ hợp (Additive Combinatorics).

Bordeaux không phải một thành phố lớn như New York hay Madrid. Nó rất xa cái tầm đó. Nhưng đây lại là một thành phố hầu như người Việt ai cũng biết, qua sự gắn bó với văn hoá Pháp và rượu vang của họ.

Tôi ở Bordeaux chưa trọn 2 ngày. Cảm nhân đầu tiên là phần trung tâm thành phố được bảo tồn rất tốt, giữ lại được vẻ đẹp cổ xưa. Chẳng có ai dẫn đường, khách tự ngồi tàu điện đi vãn cảnh lòng vòng cả chục bến, mà hai bên đường không thấy có một toà nhà kiểu hiện đại nào. Tất cả nhà cửa đều là nhà cũ, xây bằng đá, chỉ cao từ hai đến bốn tầng, mặt tiền màu sáng  có nhiều cửa số hao hao giống nhau. Ngay cả tàu điện họ cũng làm đường  điện ngầm dưới đất, chứ không kéo dây điện trên nóc tầu sợ làm  hỏng cảnh quan. Khu mới của Bordeaux được xây dựng riêng biệt ra một nơi khác, thổ dân bảo thế.  Phải cái ở hai ngày thì mưa lâm râm cả hai. Các tiệm buôn bán bảng hiệu màu cũng nhàn nhạt, rất thiếu phong cách, không có được cái vẻ mạnh mẽ sáng loà Lê Trọng Tấn.

Như nhiều thành phố khác, ở trung tâm Bordeaux có một quảng trường “Chiến Thắng”. Nơi đây sừng sững một khải hoàn môn chaò mừng những đoàn quân kiêu hãnh. Khách thì lại không được galant,  đứng giữa quảng trường thế quái nào lại ngờ ngợ nghĩ rằng là dân tộc chủ nhà, mặc dầu vĩ đại, dường như rất ít khi thắng trận trong bất cứ cuộc giao tranh nào của họ, với người La mã, người Anh, người Đức, hay Việt nam cũng vậy.  Có lẽ lần gần đây nhất Pháp đứng lên với tư cách nước thắng trận là sau thế chiến thứ 2, nhưng chiến tranh kết thúc năm 1945, thì chính phủ của nước Pháp thắng trận đến năm 1944 vẫn còn đóng đô tại London, vì Paris đang tạm bị các chú lính Đức đóng giữ. Ông thị trưởng Bordeaux, như thể chia sẻ cùng quan điểm, gần đây cho đặt ở quảng trường, ngay cạnh cái khải hoàn môn, một cái tượng hai bố con nhà rùa rất to, vàng óng.

Bordeaux là tỉnh lẻ, nên sinh hoạt cũng rẻ hơn Paris vài phần. Khách sạn chính của thành phố  có một quán uống cà fê vị trí trung tâm, bài trí lịch sự, bánh ngọt cũng ngon, muốn ngồi bao lâu thì ngồi, mà giá cả cũng chỉ hơn Starbuck chút ít. Rươu thì vô cùng rẻ nếu mua ngoài cửa hàng, còn ngồi trong quán thì cũng chỉ cỡ 20euro một chai uống cũng thấy được lắm rồi, tức là nó rất êm.

Dĩ nhiên chuyện rượu thì các đấng sành rượu (mà hiển nhiên trong đó có bạn) có thể nói cả ngày. Chuyện rượu Bordeaux thật lắm nhiêu khê. Người Việt mình chỉ gọi chung  vang Bordeaux thôi, và biết là nó ngon. Nhưng Bordeaux nhiều vùng nhỏ: Medoc, Mảrgaux, Fronsac, San Emillion vv. Tay chơi sành sỏi phải biết phân biệt rượu từng vùng.  Đại loại anh nâng cốc, quay quay, hít nhè nhẹ, nhấp từng ngụm rượu sóng sánh, mặt mũi nghiêm trọng, trầm ngâm

-Cái Medoc này hơi chát, chắc là rượu năm 19xx, năm đó hạn hán, nho bị cằn. Nếu nho trồng bên San Emillion thì tươi hơn, vị nó đậm !

Những tài năng như thế, xứng đáng gọi là chuyên gia. Các chuyên gia hàng năm cho điểm các loại rượu, đi lại thuyết trình, giới thiệu sản phẩm vô cùng bận rộn. Sản phẩm nào được họ khen, bán chạy trông thấy, người ta còn mua về để dành dưới hầm uống dần. Nghe hóng hớt có năm một hãng  sản xuất nọ gửi hai loại rượu đến cho chuyên gia viết ý kiến, một loại hàng khủng, vài trăm đồng một chai, gửi vào đầu năm, loại hai rẻ hơn, có một vài chục, gửi vào giữa năm. Chuyên gia gửi report  đến,  quả thật xứng tầm,  loại đầu tiên quả nhiên  sánh như mật, thơm như hoa, chỉ nên uống vào lúc   gió mát trăng thanh, tao nhân mặc khách, còn rượu chợ kia, dành cho tôi và bạn, ngày nào cũng uống được,  kèm với thịt rán.

Cuối năm hãng gửi thư xin lỗi, vì hai loại rượu  ấy lấy ra từ cùng một thùng, chỉ tội dán nhầm nhãn.