Skip to content

Trăm năm thương nhớ

Tháng Mười Hai 30, 2013

search

(Vũ Bằng, 1913-1984)

Tôi may mắn được biết đến cụ  Vũ Bằng khá sớm.

Trẻ con thời tôi có một nhiệm vụ thường xuyên  là “ở nhà trông nhà”.  Tức là bố mẹ đi làm cả ngày,  chúng tôi tự đi học về thì lấy cơm ủ trong chăn ra ăn, hay tự hâm cơm nguội  lên mà ăn, rồi đóng cửa trong nhà muốn làm gì thì làm.

Muốn làm gì thì làm nghe có vẻ sướng, nhưng  ngày xưa không có Ipad, Iphone, X-box, TV, Internet vv.  Đơn giản  và triệt để hơn,  không có điện. Muốn giải trí, chỉ  có hai cách.

Cách thứ nhất là rủ  một thằng bạn qua chơi, một thằng ngồi trong cửa, một thằng ngồi ngoài, thò tay qua khe cửa để đánh bài hay đánh cờ. Cách này vui nhưng  cần có may mắn. Trước hết  phải tìm ra được một chú được sổ lồng, do nhà có ông  bà hay bố mẹ đi làm về sớm, và sau đó là phải rủ được nó sang. Cái này còn khó hơn rủ bạn gái đi chơi nhiều lần. Như ta đã biết,  số con trai và con gái là gần bằng nhau. Còn tỷ lệ giữa cái hội ở ngoài cửa và hội bị nhốt trong nhà là 1:10 hoặc ít hơn, nên  cạnh tranh khốc liệt  hơn hẳn. Nếu không có món gì cho nó, còn xơi.

Cách hai là ngồi đọc sách.  Tôi có tủ sách riêng, cơ bản là sách  NXB Kim Đồng, lúc đó gần như là NXB duy nhất in sách cho trẻ con.  Nhưng sách ngày xưa hiếm, mỗi năm chỉ được thêm chục  cuốn mới, đọc nhoáng cái là hết. May thay, nhà còn tủ sách của bố, vừa to vừa cao, lại được bổ xung thường xuyên. Chủ yếu là tác phẩm dịch của Nga, Pháp và Trung Quốc.  Sau này bố tôi hay đi công tác miền Nam, tủ được bổ xung  khá nhiều sách in trước 75 ở Sài Gòn.  Một số lớn  là sách khảo cứu, đọc chẳng hiểu gì, nhưng quãng  năm 1980-81 gì đó, thì gặp  một  quyển rất thú vị.

“Nhà văn lắm chuyện” là một cuốn sách mỏng, khổ nhỏ, bìa màu xanh. Bị lọt thỏm giữa hai khảo cứu Chân Thiện Mỹ và Phật Giáo dầy cộp, nên mãi mới thấy. Cuốn sách tập hợp những câu chuyện, hồi ức của Vũ Bằng  viết về  bạn làm văn làm báo của ông ở Hà Nội trước kháng chiến.  Lúc đó tôi chưa nghe tới Vũ Bằng bao giờ, nhưng  nhiều  nhân vật trong sách  rất quen thuộc: Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Tản Đà, Ngô Tất Tố vv.

Chuyện đều  xảy ra rất lâu rồi,  vào quãng thời gian 1930-45, nhưng với tôi lúc đó, như cả một chân trời mới lạ. Thứ nhất, là giọng văn  hài hước tưng tửng của tác giả.  Trên báo chí lúc đó thỉng thoảng cũng có truyện cười, nhưng phần lớn là đả kích châm biếm hơn là những nụ cười vô tư lành mạnh. Còn nói chung văn viết ra phải nghiêm trang trịnh trọng, ngay cả trẻ con cũng phải tập làm văn  “có muc đích”. Vũ Bằng là một trong số ít những nhà văn có óc hài hước và trí tưởng tượng rất tốt ở Việt Nam. Lối viết của Nam Cao và Tô Hoài về sau cũng có ảnh hưởng ít nhiều từ ông.

Phần lớn những câu chuyện xoay quanh những bạn  làm báo với Vũ Bằng trước 45, và qua đó người đọc cảm nhận được một phần cái không khí “làm báo”, mà sau này ta có thể thấy ở những phim Âu-Mỹ. Có chụp giật, có  phóng đại, nhưng trên hết có một không khí làm viêc thật sự, hối hả và phóng khoáng.  Một tờ báo như “Vịt đực”, thì trong những năm đầu 80, là một chuyện cậu bé ở Hà nội như tôi không thể tưởng tựơng được.

Cái mới nữa là bản thân các câu chuyện. Không ít nhân vật (như đã liệt kê ở trên) lúc đó là những cây đa cây đề trong làng văn Việt nam, mà trẻ con phải học qua sách giáo khoa. Thời đó có một khái niệm, tuy mơ hồ nhưng rất đại chúng, là cái gì được  in ra, giấy trắng mực đen,   thì phải là rất “chuẩn”,  tác giả của nó cũng phải là những con người kiểu mẫu, lý lịch đã được kiểm chứng. Một khi nhà văn  đã được  đề cao, thì ắt phải tốt không thể chịu được, đáng là gương sáng noi theo. Bõm một cái, “Nhà văn lắm chuyện” rặt  những chuyện  như  Nguyễn Tuân đi hát cô đầu say rượu leo lên mái nhà, rối loạn cả xóm Khâm Thiên hay Ngô Tất Tố dùng cột đèn làm mùi xoa.   Thật ra đọc thấy các cụ những ngày đó rất dễ thương và sống rất thật. Có cái hay là từ đó bỏ được cái phản xạ thần tượng hoá ông nọ bà kia bởi truyền thông.

Chừng 7,8 năm sau, tôi  được gặp lại Vũ Bằng. Nếu “Nhà văn nói láo” là một loạt những hồi tưởng dí dỏm của một nhà báo lão thành về làng báo, thì “Thương nhớ mười hai” là  nỗi lòng tha thiết ngậm ngùi của một người xa xứ.  Có lẽ đó là cuốn sách đầu tiên của ông được in sau 75. Bố tôi mang sang Hungary cho tôi một cuốn, khổ nhỏ, giấy đen và sần sùi. Nhưng những trang viết thực sự là những bài thơ, với nỗi  day dứt của  người xa quê hương, xa người thân không biết bao giờ có ngày trở lại. Câu chữ đơn giản, chẳng đao to búa lớn, nhưng   thắm thiết, quyến luyến.  Tết đã gần đến

“…người xa nhà nhớ nhất cái mưa xuân bay nhè nhẹ như hôn vào môi, vào má người ta, thay thế cho cái mưa phùn đem buốt lạnh thấm vào da vào thịt; nhớ những con đường hoa láng láng, thơm thơm như có bàn tay ai lau rửa thay thế cho cái lầy lội, ướt át kéo dài từ tháng một sang đến thượng tuần và trung tuần tháng chạp; nhớ những hoa mận, hoa đào đú đởn múa may trước gió hiu hiu thay thế cho những cành khô nghèo nhựa nằm chết chóc trong giá rét trước ngày đông chí.”  (Tháng Chạp, Thương nhớ mười hai)

Sách có 12 chương, mỗi chương một tháng, chỉ dài chừng chục trang, nhưng Vũ Bằng , người có thể viết một ngày vài bài báo khổ lớn, viết mất hơn 10 năm.  Có lẽ nhờ  cuốn sách nhỏ này mà tôi giữ được phần nào tình cảm với quê hương. Những giòng chữ nhẹ nhàng mà đằm thắm kia sẽ giữ Việtnam  trong lòng bạn,  sâu lắng và mạnh mẽ hơn ngàn lần những khẩu hiệu khô khan và nhạt nhẽo.

Cùng với hình ảnh của một trong những nhà văn xuất sắc nhất của thời tiền chiến.

New Haven. Ngày cuối năm 2013.

From → Khác

7 phản hồi
  1. Không biết cuốn “Nhà văn nói láo” có phải bây giờ được người ta gọi là “Bốn mươi năm nói láo” hay không thưa chú? Cuốn “Bốn mươi năm nói láo” trên internet người ta bảo rằng được viết vào năm 69.

    • “Nhà văn nói láo” chỉ trích một phần trong “40 năm” ra, cuốn “40 năm” dày và nhiều tư liệu hơn.

  2. jun permalink

    Chú ý chính tả: “dòng chữ”, không phải “giòng chữ”

    • Thanks bạn Jun. Dùng “giòng” hay “dòng” thật ra có tính ước lệ, chẳng hạn Nguyễn Tuân viết truyện “Giòng chữ cuối cùng” (sau in lại với nhan đề “Chữ người tử tù”), Thạch Lam viết “Theo giòng”, Cao Văn Luận viết “Theo giòng lịch sử”, Tú Mỡ viết “Giòng nước ngược”.

      Nhưng trong một số trường hợp, “gi” và “d” cho những từ có nghĩa khác nhau.

  3. tikitaka permalink

    Đúng là “con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh”. Em vẫn nghĩ là anh có khiếu văn chương đấy. Đọc bài trên blog của anh nhiều khi giật mình.

  4. Trần Xuân Huy permalink

    Anh viết hay quá. Rất cảm động

  5. Nguyễn Hồng Hạnh permalink

    Chắc tại gs đọc sách của bố từ nhỏ, lại học xa nhà nên mới ngấm đc “Thương nhớ mười hai” của Vũ Bằng lúc tuổi sinh viên.

    Thú thực là e cũng từng đọc “Thương nhớ mười hai” tầm tuổi ấy mà chẳng có ấn tượng ngoài các đoạn tả các món ăn Bắc Việt. (Thời sv, nghĩ đến món gì cũng thèm, hi hi). Thậm chí chẳng thể hiểu đc tại sao cụ Vũ Bằng ăn cua bể lại nhớ cua đồng trong khi mình thèm cua bể chết đi đc :))

    Sau này, khi tuổi đời gấp rưỡi thời sv, trong đợt công tác dài ở Utah, lang thang trên mạng thế nào thấy lại sách ấy, đọc mới ngấm đc phần nào. Về đến HN, gặp mưa xuân ngay khi ra khỏi sân bay, lại nghĩ đến cụ Vũ Bằng🙂

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: