Skip to content

Nhân vật lịch sử: vua Lê Thái Tông

Vì truyền thuyết có lẽ rất khó tin của cụ rùa đòi kiếm, thành ra vua Lê Lợi tự dưng gắn với hồ gươm.  Nên bây giờ trên mạn đó có rất nhiều phố người nhà  Lê.

Hai phố to nhất là hai cụ vua: Lê Thái Tổ  và Lê Thánh Tông. Phố Lê Thái Tổ chạy dọc hồ ra đến Tràng Thi. Còn phố  Lê Thánh Tông cũng bắt đầu từ Tràng Thi, chỗ nhà hát lớn.  Dĩ nhiên cả hai  phố đều là  đất vàng đắt kinh hoàng.

Về mặt gia phả mà nói, cụ Lê Thái Tổ (Lê Lợi) là vua ông, cụ Lê Thánh Tông là vua cháu. Cái gạch nối ở giữa, là ông vua con, lại không có phố.

Ông vua con đây chính là vua Lê Thái Tông, mà cuộc đời rất ngắn nhưng vô cùng đặc biệt.

Vua Lê Thái Tông làm vua vỏn vẹn có 9 năm, từ lúc ông 10 đến lúc 19 tuổi. Trong lịch sử, vua bé con mà lại mất sớm như thế,  nhiều khi do các quyền thần dựng lên và dẹp đi, vì mục đích cá nhân của họ.

Kịch bản lên ngôi của vua Lê Thái Tông có lẽ cũng bắt đầu như thế. Sau khi đuổi được giặc Minh lên làm vua, Thái Tổ Lê Lợi  có con lớn là Tư Tề,  đã trưởng thành, từng tham gia chiến trận.  Ông này đã  được lâp lên làm giám quốc, thay bố cai trị đất nước. Vì một lý do nào đó, Lê Thái Tổ bỏ Tư Tề, lập con thứ là Nguyên Long làm thái tử. Đây  là kết quả của cuộc tranh giành quyền lực đầu tiên nhà Hậu Lê, khởi đầu cho những cuộc tranh giành khác kéo dài cả mấy chục năm và dẫn một thống kê thú vị là nghề rủi ro nhất trong thời gian đầu nhà Lê không phải là là nghề mò ngọc trai hay săn thú dữ mà là nghề làm thái úy.

Hoàng tử Nguyên Long được sự ủng hộ của Lê Sát, Lê Ngân, Phạm Vấn;  Tư Tề có hậu thuẫn từ Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo. Cả năm người đều là khai quốc công thần hạng nhất của nhà Lê.  Kết quả phe  Lê Sát thắng; nhiều nhà sử học cho cuộc tranh chấp này là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của cả Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo.

Hoàng tử Nguyên Long lên ngôi năm 1433, tức vua Lê Thái Tông, lúc có 10 tuổi. Phạm Vấn mất sớm, quyền lực tập trung vào tay Lê Sát. Con gái ông được lâp làm nguyên phi. Các tướng Lam Sơn thân với Lê Sát như Lê Ngân, Lê Văn Linh, Lê Ê đều giữ địa vị quan trọng trong triều.  Những người không ăn cánh với ông  kẻ bị thủ tiêu, người bị cách chức hay đẩy đi các tỉnh.

Kịch bản đến đây giống như các sách cổ. Nhưng nó thay đổi rất nhanh,  ngoài sự dự liệu của cả  những người trong cuộc.  Năm 1437, nhà vua 14 tuổi. Tuổi này trẻ con ở Mỹ chưa được luật pháp cho phép ở nhà một mình; ở Việt nam thì nhiều bạn còn bắt bố mẹ mặc quần áo. Năm 1437, vua Lê Thái Tông giết cả hai đại thần Lê Sát và Lê Ngân.

Đầu tiên nhà vua gọi Trịnh Khả từ tỉnh ngoài về chỉ huy cấm binh ở kinh đô. Trịnh Khả là người bị Lê Sát đẩy ra ngoài vì không cùng cánh. Lê Sát  vào cung tâu với nhà vua lo là Khả sẽ hại mình. Nhà vua không nói gì. Ba ngày sau Lê Sát bị bắt, con gái đang làm nguyên phi bị giáng làm thứ dân. Đến tháng 7 năm đó, Lê Sát bị kết tội, buộc phải tự sát.

Chức của Lê Sát được trao cho Lê Ngân, con gái ông này được tuyển làm nguyên phi thay con gái Lê Sát.  Đó chỉ là một nước cờ của ông vua 14 tuổi,  có lẽ nhằm ly khai hai viên đại thần này mà thôi.  Bản án giành cho Lê Ngân cũng đã được viết rồi.

Tháng 11 cùng năm, Lê Ngân cũng bị bắt và buộc phải tự sát, con gái  bị giáng làm cung nữ.  Tội danh của ông có lẽ là tội danh đặc biệt nhất thời đó. Lê Ngân bị buộc tội là cúng bái trong nhà để cho con gái được vua yêu.  Thật là một bài học đáng ghi nhớ cho các ông bố vợ. Triều thần có phần bức xúc vì sự lạm quyền của Lê Sát, nhưng đến Lê Ngân thì không ít người cam chịu sự trừng phạt của nhà vua, mà nói thẳng là ông bị oan.

Cầm quyền trong tay, Lê Thái Tông tỏ ra là một ông vua vững vàng trong nhiều lĩnh vực. Năm 1438, ông chỉnh đốn lại việc thi cử, lâp ra lệ tuần tự thi hương 5 năm một lần, thi hội 6 năm một lần. Năm 1942, mở khoa thi tiến sĩ. Tục khắc tên tiến sĩ vào bia Văn Miếu bắt đầu từ đó. (Bây giờ tiến sĩ hơi nhiều, đá thì đắt nên  tục này phải bỏ.)  Năm 1439 và 1441, nhà vua thân chinh cầm quân bình định miền Tây Bắc, dẹp yên nhiều cuộc chống đối được người Lào hậu thuẫn.

Năm 19442, Lê Thái Tông mới 19 tuổi  mất đột ngột tại Lệ Chi Viên, kéo theo sự thảm sát của gia đình Nguyễn Trãi.

Nhà vua có bốn con trai. Bang Cơ mới 2 tuổi được lâp làm thái tử, tức vua Lê Nhân Tôn. Thời gian ông làm vua, thái uý Trịnh Khả bị giết. Năm 1459, nguòi anh khác mẹ là Nghi Dân làm binh biến giết  vua Nhân Tôn. Nghi Dân làm vua được chưa đầy một năm. Cuộc đảo chính đầu tiên của các đại thần Lê Thụ,Đỗ Bí thất bại, những nguòi này chịu nạn. Chỉ vài tháng sau, Đinh Liệt và Nguyễn Xí, những cận vệ cuối cùng của Thái Tổ Lê Lợi còn sót lại, cùng thái uý Lê Lăng đảo chính thành công. Nghi Dân chết. Lê Lăng muốn lập hoàng tử Khắc Xương lên ngôi, nhưng ông này từ chối. Hoàng tử cuối cùng là Tư Thành được lập làm vua Lê Thánh Tông. Sau đó không lâu, Khắc Xương và Lê Lăng bị giết. Thời kỳ văn trị của nhà Lê bắt đầu.

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhật ký Yale: Giải mã Enigma

Tuần này khoa toán có một buổi nói chuyện đặc biệt. Khách mời là David Saltman, giám đốc của một trong ba trung tâm nghiên cứu của IDA (Institute for Defence Analysis), một dạng CIA công nghê của chính phủ.  Bác Saltman ngày xưa làm tiến sĩ toán tại Yale, và đi dậy học một thời gian khá dài. Trong một ngày đẹp trời, tinh thần ái quốc nổi lên, bác đầu quân cho IDA. Thật ra ở IDA các chuyên viên cũng làm toán, nhưng làm toán gì thì cóc được nói ra ngoài. Cũng như ca sĩ sáng tác nhạc chỉ được hát cho nhau nghe.

Vì không được nói cái bác đang làm, bác nói về cái ngừoi khác làm. Cụ thể là chương trình giải mã Enigma.

Enigma quá nổi tiếng, nó là máy mã hoá của Đức trong thế chiến thứ hai. Để buổi nói chuyện thêm xôm, bác S. đem đến  một máy  Enigma xịn, tài sản của IDA, nặng như cùm.  Quá trình giải mã Enigma bạn chắc đã xem qua bộ phim The Immitation Game  gần đây, với  anh  Benedict Cumberbatch  đẹp giai và  cô Keira Knightley eo thon. Phim kể về công trình của Alan Turing, nhà toán học lừng lẫy người Anh, và nhóm của anh, đã phá mã Enigma thành công. Theo giới sử học Anh-Mỹ, công trình này đã giúp kết thúc chiến tranh sớm hai năm, và tránh được cái chết cho hàng triệu người.

Chỉ có điều, Turing không phải người đầu tiên làm được điều đó.

Chuyện của Saltman hướng về  một nhóm nhà toán học người Balan, dẫn đầu bởi Marian Rejewski, đã phá mã Enigma thành công từ những năm 30s, 10 năm trước nhóm của Tủring. Đã có những giai đoạn nhóm này có thể đọc được 75% các trao đổi của quân đôi Đức, đáng tiếc công trình của họ không giúp cho quân đội Balan, với trang bị kém hơn hẳn và phải thụ địch từ cả hai phía, tránh khỏi thảm bại. Lịch sử, dĩ nhiên được viết bởi nước thắng cuộc.

Trong quá trình giải mã, Rejewski và đồng đội có một số ý tưởng rất thông minh. Một ví dụ là mật mã sau:

TYUE MHJU STKJ ITHY QURE XCDF ZSAI NHJM KOPH XCVB BFYT ĐHIU QPOK ÁZXD MING

CTUO OKPO ẺKGU VBGI HINU NHHJ SDAW QECU EKMH JPOY TVFG SEEG VGUI MFDX

Quá trình mã hoá dựa trên các hoán vị của 26 chữ cái.  Cái hiểm hóc của Enigma là mỗi lần bấm một chữ cái mới trong bản tin cần chuyển, máy sẽ mã hoá chữ này bằng một hoán vị mới. Chẳng hạn thông tin (nhậy cảm)  BEO, sẽ được mã hoá thành p(B) q(E) r(O), trong đó p,q,r là ba hoán vị khác nhau do máy Enigma tự làm ra vào thời điểm gõ chữ.

Tất nhiên, vì  sinh ra bởi  máy, các hoán vị P,Q,R không phải ngẫu nhiên. Một đặc điểm của Enigma, do cơ chế cơ khí của nó,  là tất cả các hoán vị do nó sinh ra gồm các cập chữ đảo cho nhau, chẳng hạn nếu p(B)= G, thì p(G)= B, q(E)= A thì q(A)= E, r(O)= Y thì r(Y)= O vv. Vì vậy không có chữ nào được hoán vị với chính nó.  Bạn có thể thấy trong mật mã trên không có chữ L nào. Điều đó cho thấy khả năng rất cao là đoạn văn chưa mã hoá gồm toàn chữ L (dĩ nhiên do nhân viên điện đài gõ chơi để thử máy). Đoạn văn này chả có nội dung gì, nhưng một khi biết cả đoạn chưa mã hoá và đoạn đã mã hoá, thì khả năng đoán được mã là khá cao.

Các hoán vị của Enigma được thay đổi hàng ngày, bằng cách quay 3  trục trên máy. Các trục sẽ đứng vào một tổ hợp cố định trong ngày. (Trong thực tế tổ hợp  này là 3 số, tôi sẽ dùng các chữ cái cho dễ diễn đạt.) Chẳng hạn các trục được xét ở vị trí RU-AB-AT  thì trong ngày hôm đó máy sẽ mã hoá một kiểu, nếu hôm sau trục để theo vị trí khác, như DO-NC-ON, máy sẽ mã hoá theo kiểu khác. Trong phim The Immitation Game, nhóm của Turing phải giải mã  từng ngày, tức là họ tìm cách đoántổ hợp trục của ngày hôm đó, có ngày tìm được, có ngày không. Nhưng  Keira thì hôm nào  cũng xinh.

Trong một thời gian dài, nhóm toán học Balan đoán rất thành công tổ hợp  này.  Thành công này, trớ trêu, được tạo nên bởi sự cẩn thận của người Đức. Các anh Đức, để tăng thêm phần khó cho đối phương, quyết định là mỗi thông tin gửi đi phải được dùng một tổ hợp  trục khác nhau. Tổ hợp này được gửi ở đầu đoạn văn, nhân viên mật mã đọc nó ra bằng tổ hợp của ngày, sau đó chỉnh máy vào tổ hợp trục mới để giải mã, giải xong lại quay máy lại vào tổ hợp của ngày như cũ.  Hiển nhiên đây là một tầng bảo mật mới.

Vấn đề ở chỗ, để cho  chắc ăn,  người Đức gửi tổ hợp trục  mới hai lần ở đầu đoạn văn, đề phòng khi thông tin bị nhiễu (cũng như khi để số ĐT cho ai đó trên băng ghi âm, bạn nhắc lại hai lần). Thông điệp gửi đi  sẽ trông thế này

LA-UN-HA LA-UN-HA   HOM NAY THONG CHE ĐAU BUNG.

Dĩ nhiên, người Balan không nhìn thấy thông điệp này, họ chỉ bắt đươc bản mã hoá thôi.

TI-PU-CV CG-ON-DF   LKJ NHU TTYDF GIO LPY BGTI

Cái mà họ biết, là 12 chữ cái đầu tiên là mã hoá hai lần liền của cùng  một tổ hợp. Nếu  các hoán vị Enigma đã dùng là p_1, p_2,p_3……., thì có nghĩa là p_1(T)= p_7 (c), p_2 (I)= p_8 (G) vv. Nhờ thông tin này, và một số kiến thức về sự vận hành của máy, và tất nhiên, một phần may mắn, họ tìm ra được tổ hợp của ngày, và qua đó đọc hết các trao đổi của đối phương ngày hôm đó. Đáng khâm phục hơn, khác với nhóm Turing, nhóm này không có một máy Enigma nào của quân đội Đức. (Họ biết nguyên lý hoạt động của máy và có thể có một Enigma cũ hơn; Enigma được dùng vào mục đích dân sự từ những năm 1920.)

Các ý tưởng của nhóm Balan được Turing và đồng đội sử dụng và phát triển khá nhiều. Chính phủ  Balan  bất bình vì trong bộ phim The Immitation Game (và nhiều tư liệu khác), chiến công của nhóm Rejewsky chỉ được nhắc rất qua loa. (Trong phim IG chỉ có một câu thoại  nhắc đến họ.)  Balan đang có một phong trào lobby cho việc đề cao công lao của nhóm này.

Về con số 2 năm và mấy triệu người, mình đoán các sử gia ngây ngất men chiến thắng cũng hơi nói quá lên một chút. (Tổng số thiệt hại của Anh trong cả cuộc chiến là 450.000 người; của Mỹ còn ít hơn một chút.) Không nhớ  có chiến dịch hay trận đánh lớn nào mà việc giải mã  qua Enigma có vai trò bản lề ? Một số nhận định cho thấy vai trò việc giải mã quan trọng nhất trong việc đánh đắm một số lớn tàu chở nguyên liệu của đối phương. Rommel phải chịu thất bại và rút khỏi Bắc Phi một phần vì xe tăng hết xăng.

Còn cái máy Enigma, đúng là đồ nồi đồng cối đá của Đức, sau hơn 60 năm vẫn hoạt động một cách rất ổn, bấm đâu chạy đấy.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Một số ý kiến về thi trắc nghiệm

Trần Nam Dũng-Hà Huy Khoái-Vũ Hà Văn

 

(Bài đăng trên báo Thanh Niên, với tít mới của toà soạn.)

Gần đây dư luận tập trung nhiều vào việc bộ giao dục tổ chức thi trắc nghiêm môn toán vào năm học tới.

Có khá nhiều ý kiến phản biện quyết định này. Có hai ý chính thường được nhắc tới. Thứ nhất, kỳ thi tổ chức ngay năm tới là quá cập rập. Thứ hai, bản thân thi trắc nghiệm không phải là một cách thi tốt.
Chúng tôi muốn nêu một vài ý kiến về vấn đề thứ hai. Theo chúng tôi, nếu được chuẩn bị tốt (xin nhấn mạnh chữ “nếu”) thì thi trắc nghiệm có khá nhiều ưu điểm. Một số ưu điểm chính như sau:
(1) Đây là hình thức thích hợp khi số người đạt chuẩn chiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng số thí sinh. Kỳ thi tốt nghiệp là một kỳ thi như vây. Mục tiêu của nó không phải để tìm ra những học sinh có năng khiếu nhất về toán; đã có nhiều cuộc thi khác cho mục tiêu này.
(2) Ưu thế của thi trắc nghiệm là nó kiểm tra được kỹ năng suy đoán, ước lượng, và quyết định nhanh của thí sinh. Những kỹ năng này là những kỹ năng cơ bản mà mỗi người cần có khi “vào đời”, có thể quan trọng hơn là kỹ năng giải được một bài toán đầy đủ từ A đến Z.
(3) Không nên lo ngại “học vẹt, học thuộc”, vì nếu thí sinh “học thuộc” mà làm được đủ dạng bài tập thì hoàn toàn xứng đáng đạt chuẩn. Ngoài ra, đối với môn Toán, nếu không hiểu bản chất, thì khó lòng học thuộc được hết kiến thức, bởi một bài toán cơ bản (như giải hệ phương trình bậc nhất) có thể được thể hiện ở dưới rất nhiều dạng. Một số ý kiến sợ rằng học sinh đoán mò, nhưng đoán chỉ trúng với tỷ lệ 1/4, tức là sẽ dưới điểm chuẩn rất nhiều.
(4) Viêc chấm thi hết sức nhanh và nhẹ nhàng. Tránh được yếu tố chủ quan, thiếu công bằng . Ưu điểm này vượt trội so với chấm thi tự luận.

Vấn đề vướng mắc chính có lẽ là khâu ra đề. Nếu ra đề không tốt (như một số “đề mẫu” hiện thấy trên mạng) thì thí sinh có thể dùng máy tính cầm tay casio làm thay. Ở Mỹ, nơi mà thi trắc nghiệm được dùng phổ biến, ra đề là cả một ngành công nghiệp. Có các công ty chuyên sản xuất đề cho các cuộc thi lớn như SAT hay TOEFL.
Ngay cả một số kỳ thi học sinh giỏi cũng dùng thi trắc nghiệm (mặc dầu điều này hãn hữu hơn). Ví dụ là thi AMC cho học sinh các năm dưới. Một ví dụ khác là cuộc tuyển chọn ứng viên làm tiến sĩ tại Mỹ của chương trình VEF (năm đầu tiên). Một trong những tác giả bài viết này (HHK) được mời tham gia việc tuyển chọn ứng viên cho học bổng của Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEF) năm đầu tiên, và được phía Mỹ cho xem các đề trắc nghiệm họ sẽ dùng, với đề nghị thêm 20 câu cho thích hợp với chương trình VN. Có thể thấy đề của họ rất hay, phải nắm vững kiến thức mới làm được, không phải là chỉ cần học thuộc. Sau khi đã bổ sung thêm 20 câu trên tinh thần tương tự và phù hợp với chương trình đã học của sinh viên VN, kết quả là, những thí sinh đạt điểm trắc nghiệm cao nhất cũng chính là những thí sinh được đánh giá cao nhất khi phỏng vấn.
Việt Nam cần xây dựng một ngân hàng đề đủ tốt, được trải qua kiểm định nghiêm khắc về chất lượng. Việc này có lẽ cần thời gian và nhiều công sức, vì thế có thể nên cân nhắc việc thi ngay trắc nghiệm môn Toán. Học sinh cũng cần làm quen với cách thi này trong trường phổ thông, qua các kiểm tra đinh kỳ. Khi cả học sinh, giáo viên và phụ huynh đã hiểu rõ cuộc thi và có chuẩn bị tốt về kỹ thuật và tâm lý, kỳ thi sẽ dễ đạt được mục đích đặt ra hơn.

Đi đón ông Tây

Ông Tây rất to vừa qua thăm Việt Nam.

Ông đã xa Hà Nội vài ngày, nhưng dân tình còn lao xao. Chẳng phải lao xao vì những phát biểu của hai bên, hay  quan hệ Pháp-Viêt đã được đẩy lên “tầm cao mới”. Việc đơn giản hơn nhiều.

Số là nhà nước ta đãi ông tổng thống Pháp ăn trưa. Trong bữa có dùng rượu. Dân mạng tinh như ranh, soi ngay ra là vang Úc, hình như cũng là loại bình dân. Thế là lao xao. Nhiều người  bảo bộ ngoại giao  rất sơ xuất, người Pháp mà lại thết vang Úc, như thế là khinh thị người ta. Hoặc giả ai đó muốn xỏ ngọt phái đoàn Pháp….

Chẳng ai phải có lỗi gì cả. Có chăng là người Việt chúng ta qúa hiếu khách mà thôi. Ông tổng thống sang, đã có thảm đỏ sân bay, nghi thức quốc gia trịnh trọng. Ông thích đi chơi phố cổ, được toàn trí thức tinh anh tháp tùng, chẳng phải đã quá là thịnh tình ?  Bữa trưa bài trí lịch sự, thức ăn ngon lành toàn đặc sản, ăn xong không có ai đau bụng. Với tình hình vệ sinh thực phẩm như hiện tại đã là một cố gắng không nhỏ. Còn ông tổng thống Pháp chắc uống rượu Pháp chán ra rồi, cho uống thứ khác, khéo ông lại thích. Kể ra đồ uống Việt Nam là tốt nhất. Rượu thì chả biết, nhưng bia Sài gòn cổ rụt mình vừa được giới thiệu uống rất được, hơn hẳn cái anh Côrona nhạt nhạt đang thời thượng vừa uống vừa phải vắt chanh. Dáng chai lại rất quê hương, hơi lùn tý, đậm đậm, không được dài, nhưng rất xinh.

Về phần ông tổng, thì performance  cũng có vẻ bình thường, còn lâu mới so được với đồng nghiệp người Mỹ nhanh nhẹn  lẩy Kiều   mấy tháng trước.  Câu nói được trích nhiều của ngài, đại loại là  “..Hà nội có nhiều điểm giống Paris…” gì đó,  nghe hơi đãi bôi. Người biết lịch sử Pháp-Việt, cùng với nó sự hình thành của Hà Nội, thì chẳng cần đến cả Hà Nội lẫn Paris, ngồi nhà cũng phán  được là hai thành phố có nhiều điểm giống nhau. Gía ông nói câu ấy ở phố Tràng Tiền hay Bà Triệu, thì nghe còn đắc địa. Nhưng  phố cổ, thì chẳng thấy nó giống (ít nhất là những chỗ đặc trưng nhất) Paris là mấy. Ngay cả Paris quận 13 cũng không giống nốt. Thành ra phảng phất như là ngài học thuộc bài từ  nhà. Dù vậy phái đoàn vẫn nhẹ nhàng bán được 6,7 tỷ tiền máy bay. Mặc dầu doanh thu kém hẳn so với đồng nghiêp Hoa Kỳ, nhưng cũng không phải là nhỏ. (VTV gần đây đưa tin hoan hỉ là hoa quả xuất khẩu toàn quốc, chắc phải là công sức của cả vài trăm nghìn nông dân,  đã gần đạt mức 2tỷ/năm.)   Người Hà nội, Sài gòn đi đón ông đều vui vẻ nồng nhiệt. Như vậy thật cũng đáng hài lòng lắm rồi. Chỉ có người Việt mình vẫn không hài lòng với nhau, mới lạ.

Hiếu khách thế này, các ông Tây còn tranh nhau sang Việt Nam dài dài. Tây đón nhau, xem ra không được quá trịnh trọng  như thế. Các quan chức to uỳnh, thậm chí nguyên thủ, đến nói chuyện ở Yale khá thường xuyên, năm nào cũng có. Học sinh nếu được nghỉ học thì còn đi nghe, còn các đồng nghiệp đáng kính cứ nằm ườn hết ra, chẳng mấy quan tâm. Anh nào rách việc mò đi, thì rất không chịu tập trung nghe lời gang thép, lại cứ chăm chăm đợi xem ông to có nói hớ câu nào, đem về cười với nhau, thái độ vô cùng không nghiêm túc. Nếu có chấm điểm, hẳn không bao giờ được chiến sĩ thi đua.

Còn rượu thì chắc chỉ cỡ hai chục một chai, nếu mua sỉ ở Costco dịp hạ giá, khéo chỉ còn 12 đồng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giáo sư phiêu lưu ký: Một thoáng Bordeaux

Tháng 4 vừa qua tôi qua Bordeaux họp một hội nghị về số học tổ hợp (Additive Combinatorics).

Bordeaux không phải một thành phố lớn như New York hay Madrid. Nó rất xa cái tầm đó. Nhưng đây lại là một thành phố hầu như người Việt ai cũng biết, qua sự gắn bó với văn hoá Pháp và rượu vang của họ.

Tôi ở Bordeaux chưa trọn 2 ngày. Cảm nhân đầu tiên là phần trung tâm thành phố được bảo tồn rất tốt, giữ lại được vẻ đẹp cổ xưa. Chẳng có ai dẫn đường, khách tự ngồi tàu điện đi vãn cảnh lòng vòng cả chục bến, mà hai bên đường không thấy có một toà nhà kiểu hiện đại nào. Tất cả nhà cửa đều là nhà cũ, xây bằng đá, chỉ cao từ hai đến bốn tầng, mặt tiền màu sáng  có nhiều cửa số hao hao giống nhau. Ngay cả tàu điện họ cũng làm đường  điện ngầm dưới đất, chứ không kéo dây điện trên nóc tầu sợ làm  hỏng cảnh quan. Khu mới của Bordeaux được xây dựng riêng biệt ra một nơi khác, thổ dân bảo thế.  Phải cái ở hai ngày thì mưa lâm râm cả hai. Các tiệm buôn bán bảng hiệu màu cũng nhàn nhạt, rất thiếu phong cách, không có được cái vẻ mạnh mẽ sáng loà Lê Trọng Tấn.

Như nhiều thành phố khác, ở trung tâm Bordeaux có một quảng trường “Chiến Thắng”. Nơi đây sừng sững một khải hoàn môn chaò mừng những đoàn quân kiêu hãnh. Khách thì lại không được galant,  đứng giữa quảng trường thế quái nào lại ngờ ngợ nghĩ rằng là dân tộc chủ nhà, mặc dầu vĩ đại, dường như rất ít khi thắng trận trong bất cứ cuộc giao tranh nào của họ, với người La mã, người Anh, người Đức, hay Việt nam cũng vậy.  Có lẽ lần gần đây nhất Pháp đứng lên với tư cách nước thắng trận là sau thế chiến thứ 2, nhưng chiến tranh kết thúc năm 1945, thì chính phủ của nước Pháp thắng trận đến năm 1944 vẫn còn đóng đô tại London, vì Paris đang tạm bị các chú lính Đức đóng giữ. Ông thị trưởng Bordeaux, như thể chia sẻ cùng quan điểm, gần đây cho đặt ở quảng trường, ngay cạnh cái khải hoàn môn, một cái tượng hai bố con nhà rùa rất to, vàng óng.

Bordeaux là tỉnh lẻ, nên sinh hoạt cũng rẻ hơn Paris vài phần. Khách sạn chính của thành phố  có một quán uống cà fê vị trí trung tâm, bài trí lịch sự, bánh ngọt cũng ngon, muốn ngồi bao lâu thì ngồi, mà giá cả cũng chỉ hơn Starbuck chút ít. Rươu thì vô cùng rẻ nếu mua ngoài cửa hàng, còn ngồi trong quán thì cũng chỉ cỡ 20euro một chai uống cũng thấy được lắm rồi, tức là nó rất êm.

Dĩ nhiên chuyện rượu thì các đấng sành rượu (mà hiển nhiên trong đó có bạn) có thể nói cả ngày. Chuyện rượu Bordeaux thật lắm nhiêu khê. Người Việt mình chỉ gọi chung  vang Bordeaux thôi, và biết là nó ngon. Nhưng Bordeaux nhiều vùng nhỏ: Medoc, Mảrgaux, Fronsac, San Emillion vv. Tay chơi sành sỏi phải biết phân biệt rượu từng vùng.  Đại loại anh nâng cốc, quay quay, hít nhè nhẹ, nhấp từng ngụm rượu sóng sánh, mặt mũi nghiêm trọng, trầm ngâm

-Cái Medoc này hơi chát, chắc là rượu năm 19xx, năm đó hạn hán, nho bị cằn. Nếu nho trồng bên San Emillion thì tươi hơn, vị nó đậm !

Những tài năng như thế, xứng đáng gọi là chuyên gia. Các chuyên gia hàng năm cho điểm các loại rượu, đi lại thuyết trình, giới thiệu sản phẩm vô cùng bận rộn. Sản phẩm nào được họ khen, bán chạy trông thấy, người ta còn mua về để dành dưới hầm uống dần. Nghe hóng hớt có năm một hãng  sản xuất nọ gửi hai loại rượu đến cho chuyên gia viết ý kiến, một loại hàng khủng, vài trăm đồng một chai, gửi vào đầu năm, loại hai rẻ hơn, có một vài chục, gửi vào giữa năm. Chuyên gia gửi report  đến,  quả thật xứng tầm,  loại đầu tiên quả nhiên  sánh như mật, thơm như hoa, chỉ nên uống vào lúc   gió mát trăng thanh, tao nhân mặc khách, còn rượu chợ kia, dành cho tôi và bạn, ngày nào cũng uống được,  kèm với thịt rán.

Cuối năm hãng gửi thư xin lỗi, vì hai loại rượu  ấy lấy ra từ cùng một thùng, chỉ tội dán nhầm nhãn.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tuổi thơ chỉ một…

Trường Chu Văn An, cho đên năm 1985, có một lớp tương đối ít học sinh hơn, nhưng  không kém nghịch hơn các lớp khác. Đó là lớp chuyên Toán của thành phố Hà Nội, tên lớp mang chữ I (10I, 11I, 12I). Từ năm 1985 trở đi, các lớp chuyên, được đặt rải rác ở các trường trong thành phố, được chuyển hết về Hà Nội-Amsterdam.

Tôi theo học một trong những lớp chuyên Toán  cuối cùng này ở Chu Văn An. Con đường vào cấp 3 thật cheo leo. Ở cấp 2, tất cả các quân huyện ở Hà Nội  (hồi đó Hà Nội bé, chỉ có 4 quận nội thành và hai huyện) đều có lớp chuyên Toán. Các lớp này hàng năm tổ chức thi tuyển, loại ra vài người, lấy vào vài người mới. Sở giáo dục ra một quyết định thiên tài là các kỳ thi tuyển này phải được tổ chức vào cuối hè, nên từ đầu tháng 6 đến giữa thang 8, tổng cộng chừng 75 ngày,  các phụ huynh ngày ngày nhắc nhở 3 lần “con phải lo thi xong đã, rồi chơi gì hãy chơi”. Thi xong là chừng 20 tháng 8, không biết chơi gì bây giờ ?  Nên các học sinh chuyên toán khi lớn lên, yêu quí kính trọng thầy cô giáo thì có, nhưng  tình cảm với sở thì  hình như không được mặn mà.

Đấy là chuyện cấp 2, thi vào cấp 3 gay cấn hơn, vì 6 lớp chuyên đó, và các bạn lớp ngoài, cùng hợp lại thi chỉ để lấy một lớp vào Chu Văn An thôi. Đành rằng có một số bạn vô cùng xuất sắc đã được chọn trước vào các lớp chuyên hạt giống ở Đaị học tổng hợp và sư phạm, nhưng còn lại vẫn là 10 lấy 1. Đó là kỳ thi gay cấn nhất trong cuộc đời đi học của tôi.

Đầu vào khó khăn như vậy, nhưng như được đền bù lại, những năm học ở Chu Văn An cũng là những năm đẹp nhất. Trường hồi đó vẫn được quét vôi vàng như hiện nay, lớp học rộng và cao, trong sân cây cổ thụ xếp hàng. Hồ Tây đẹp một cách hoang sơ và thơ mộng. (Hồi đó hồ còn chưa kè và khái niệm “đất vàng” cũng chưa xuất hiện.) Những hôm trời se lạnh, sương mù bay toả che kín mặt hồ, không thấy đâu là bờ. Gió khẽ luồn qua cửa sổ, thổi nhẹ lên mái tóc bạn gái ngồi đằng trước . Lời giảng của cô giáo cũng như nương hơi gió, bay đi….

Chúng tôi may mắn được theo học những thầy cô gáio dạy giỏi lại quí học trò. Thầy chủ nhiệm Vũ Xuân Mai, cô Đỗ Hồng Anh, thầy Đỗ Lệnh Điện, cô Nguyễn Ngân Nhạn… Ai cũng để lại một dấu ấn riêng. Thầy Mai hiền lành, ít nói. Thầy tận tuỵ nhưng thỉnh thoảng cũng phải nổi cáu trước bọn học trò tinh quái. Cô Hồng Anh sắc sảo với nhiều kiến thức mới lạ. Thầy Điện trẻ trung, giảng thật có duyên, đẹp trai lại đá cầu rất khéo.

Một lần cả lớp đi chùa Hương (năm lớp 11), ngủ lại một đêm. Mấy đứa con trai mới lớn chúng tôi nằm tán chuyện huyên thuyên suốt đêm, quên cả thầy chủ nhiệm đang nằm gần đó. Đi chơi vể, họp phụ huynh, thầy than thở “Không ngờ các em ấy lại trưởng thành  đến thế !” Phụ huynh nghe xong, tím tái cả người lại, vì trưởng thành kiểu đấy rất dễ xơi hạnh kiểm khá, khó đi học nước ngoài.  Cuối cùng thầy cũng cho qua, nhưng thật thà thì những chuyện nói với nhau đêm hôm ấy mà bây giờ kể cho con  đang học cấp 2 thì nó sẽ tròn xoe mắt mà bảo bố mẹ xuống cấp 1 mà học.

Hội con gái lớp tôi thân nhất với cô Nhạn dậy Văn. Tổng kết truyện Kiều của cô là “Đàn ông là vô tích sự !”  Đến nay, đó đã là chân lý rạng ngời, nhưng  với tụi tôi lúc đó, ai cũng thấy bàng hoàng mới mẻ. Cô có môn tử vi bí hiểm, bói lấy chồng cực linh nghiệm, nên học trò nữ cứ đến thăm cô luôn luôn.

Trong các hoạt động của trường Chu Văn An, ấn tượng nhất là giải bóng đá. Hồi đó, Chu Văn An là trường duy nhất ở thủ đô có sân bóng đá rộng (11 người) và có khung gôn nghiêm chỉnh. Mặc dầu mặt sân nhiều chỗ còn lổn nhổn gạch đá, và phần lớn chúng tôi chạy chân đất, so với các nơi khác thì đã là thiên đường rồi. Giải bóng đá hàng năm do thầy hiệu phó Nguyễn Kim Hoãn (sau là hiệu trưởng đầu tiên của Hà Nội-Amsterdam) tổ chức. Mỗi khối có 8 đội, đá loại trực tiếp. Lớp chuyên Toán, mặc dầu ít người hơn hẳn các lớp khác, nhưng thành tích đá bóng rất đáng nể, được coi là một đội khó nhằn. Năm lớp 11, đá với lớp A bên cạnh, phải thi penalty để phân thắng bại. Cầu thủ lớp mình rõ ràng đá vào góc, nhưng vì gôn không có lưới, nên đội bạn cãi là ra ngoài, hai đội kiện nhau lên đến ban giám hiệu, làm các thầy chủ nhiệm phải dàn xếp để đá lại. Rốt cuộc thì vẫn thua. Trò chơi ưa thích trong những giờ may mắn hiếm hoi được nghỉ tiết là kê hết bàn ghế sang một bên, đuổi hết bạn gái ra khỏi lớp, và đá bóng vào ngừoi nhau. Trò thứ hai là kê bóng lên cửa ra vào một cách rất khéo léo, để khi bạn nào mở cửa vào lớp là bóng phải rơi chính xác vào đầu. Cho đến một ngày các chàng trai  quên mất là cả lớp đã vào lớp hết ở ngoải không còn ai nữa và người sắp đến mở cửa không phải ai khác ngoài thầy chủ nhiệm.  Bóng hồi đó là bóng cao su, đá chừng vài tuần nó méo và bay theo những quĩ đạo không ai đoán trước được.  Về sau chúng tôi gặp lại nhau, vẫn chia ra đôi ra đá bóng rồi đi bia hơi. Suốt hơn 20 năm liền như thế. Rồi cho đến gần đây thì chỉ còn bia hơi thôi. Vài năm nữa,  khéo chỉ nói chuyện mua  thuốc bổ ở đâu tốt.

Những năm chúng tôi đi học là giai đoạn cuối của thời bao cấp. Cơm ăn đôi khi phải độn.Nhiều hôm học thêm buổi chiều, trưa giở cặp lồng cơm ra ăn chung, phần lớn cũng chỉ là rau dưa. Quần áo có gì mặc nấy, từ bảo hộ lao động sắn vài gấu  đến sơ mi ngắn cũn cỡn. Nhưng sao đến lớp lại vui, có cái cảm giác mong đi học, để được gặp bạn bè.

Bây giờ chúng tôi sống rải rác trên toàn thế giới, từ Việt  Nam, qua Anh, Đức, rồi Mỹ, Balan…Ở đâu cuộc sống cũng hối hả, với bao lo toan dự liệu. Nhưng đôi khi, sau một ngày căng thẳng, ngồi nhớ lại mái trường xưa và quãng thời gian thơ dại ấy, hình dung ra bóng dáng thầy cô bạn bè, mà lòng mình như tĩnh lại.

Mấy chục năm rồi, ngôi trường cũng có nhiều thay đổi. Mỗi khi về nước, dạo phía ngoải trường lặng, ngó vào trong sân, hướng về căn lớp cũ thấy bời bời trong tâm trí. Nhiều thầy cô đã mất. Cái thời hồn nhiên trong trẻo xưa như với vừa đâu đó. Mình đang trẻ lại, hay mình cảm thấy dấu ấn của thời gian đã trôi đi ? Ba mươi người rẽ sang ba mươi ngả, ai cũng đã trưởng thành, theo cách của riêng mình.

Hình như tiếng trống. Tiếng trống thực của hôm nay hay tiếng trống trong tâm trí ? Các em trong sân chơi, tôi ở bên ngoài cánh cổng. Con đường Thuỵ Khuê quen thuộc. Đi nữa là lên Bưởi, sang Nội Bài, là những chuyến bay và một quê hương thứ hai xa thăm thẳm. Một ngày nào đó các em sẽ đứng như tôi đây, ngó vào trường với bao hoài niệm, yêu thương. Khoảng cách giữa chúng ta chỉ là một cánh cổng trường. Nhưng vượt qua cánh cổng này, vào trong lớp cũ, ngồi trên chỗ ngãy xưa, tôi vẫn không thể hoà cùng các bạn. Còn khoảng cách của 30 nữa chứ. Có ông nhà văn người Pháp có sáng kiến “Đi tìm thời gian đã mất”.  Thời gian của chúng ta không mất, nó hoá thành trí tuệ, thành tâm hồn chúng ta. Nó không mất nên chẳng cần tìm, và dù có tìm cũng không thấy được. Đường tiến thân có nhiều, mà tuổi thơ chỉ một. Cái con đường một chiều, đi không quay lại. Các bạn ơi, hãy trân trọng. Trân trọng ngay khi ta còn ở trong tuổi ấy.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhật ký Yale: Hội thảo biển Đông

Cuối tuần qua tại Yale diễn ra một hội thảo về tình hình biển Đông, do MacMillan center (Yale) và IVCE (Ínstitute for Vietnamese culture and education), một tổ chức độc lập, tài trợ (ban tổ chức  gồm Trần Đức Anh Sơn, Quang Phu Van,  Erik Harms và Michael Dove).

Hội thảo có nhiều học giả quốc tế tham gia. Tôi xin tóm tắt một vài ý chính đáng chú ý từ các bài phát biểu của một số chuyên gia không phải gốc Việt hoặc gốc Hoa.  Các đoạn tiếng Anh là trích nguyên văn từ bài tóm tắt của diễn giả.  Hy vọng trường sẽ upload video links trong thời gian gần đây.

Bill Hayton (Ásia Program, Chatham house, UK) phát  biểu về nguồn gốc bản đồ biển của Trung quốc, theo ông bản đồ này mới có từ năm 1933:

China’s historic claim to the South China Sea only emerged after 1933 as response to the annexation by France of several of the Spratly Islands.

The French annexation prompted an angry, though contradictory, responds among Chinese state officials, journalists and educationalists. This coincide with the first formal effort by the Republic of China to define the country’s territory through its “Land and Water Maps Inspection Committee”. This effort was not a process of documenting a pre-existing and self-evident claim, but of imagining, constructing and asserting it through the mobilization of archive documents.

 

Carlyle Thayer (Univ. New South Wales, Australia) phát biểu về chiến lựợc của Trung quốc với các đảo nhân tạo.

Analysts have identified four main drivers behind  China’s policy of constructing artificial islands in the South China Sea: nationalism, fisheries, hydrocarbons and geo-strategic imperatives. The geo-strategic imperatives are the most important.

China’s artificial islands in the Spratly archipelago will serve as forward operating bases for Chinese fisheries and hydrocarbon industries. More importantly, the infrastructure on these artificial islands will support a growing military presence in the future. China is engaging in “new colonialism” by constructing upwards from submerged reefs in order to assert control of the adjacent waters and recourses.

The present US. Fredom of Navigation Operational Patrols are unlikely to dissuade China from exerting control over the South China Sea. In summary, China is slowly and deliberately excising the maritime heart out of Southeast Asia and by gradually militarizing its artificial islands it will later the regional naval balance of powers in coming decades.

 

Daniel Schaeffer (Ásia think-tank 21, France) nói về mục đích chính của Trung quốc tại biển Đông. Các ý kiến của ông có chỗ tương đồng với ông Thayer, nhưng có lẽ vì  Schaeffer  là một vị tướng, nên nhìn nhận vấn đề qua đơn vị tầu ngầm, như bạn sẽ thấy ở dưới.

Contrary to what a lot of different observers area spreading over the world, the main reasons of Chinese claim are not based on the existence of hydrocarbon in the subsoil, neither on that of the sea living resources, nor the safety and security of the international navigation.  These are only stakes.

The main reason is strategic. Because the utmost problem for China, which feels not only contained, but threatened by the US, is to be able to have its noisy Jin-class SSBNs securely exit their Sanya homeport with two operational possibilities: diving in the depths of the South China Sea, or escape this semi-enclosed sea through the Bashi strait in order to enter the Pacific ocean, and come as close as possible to the western US continent and put the biggest towns at firing range of the Julang 2 nuclear missiles. This is the only valid reason for which China wants to empty the South China Sea of any foreign navy: escape the foreign tracking of its boats.

 

Aileen Baviera (Univ. of the Philippines) phát biểu về quan hệ giữa Mỹ, Trung Quốc và Philippines, và những mối quan ngại của Phillipines.

Currently, China’s neighborhood policy, particularly with reference to the South China Sea, is full of contradiction. On the other hand, the Philippines is caught in the bind on whether to be guided by principles or pragmatism in its approach towards China’s more muscular behavior. It has to rely on a military alliance with the US, whose credibility is doubted in key policy circles. The Philippines has staked its claim to marine resources at apparent great political cost, knowing full well that the solutions may be beyond reach without making even more compromises.

For the Philippines, the brewing rivalry between major powers threatens to overlay its other goals and concerns, raising questions about whether its core interests will be ultimately be served.

 

Harry Kazianis và Patrick Cronin (Potomac Foundation, US) có ý kiến về đường lối của Mỹ trong khu vực. Ngôn ngữ của họ khá dứt khoát. Cronin có nhắc tới việc Mỹ có thể bỏ cấm vận vũ khí hoàn toàn với Việt Nam trong thời gian tới.

Bài của Kazinanis mang tựa đề  “Shamefare: A new US strategy for the South China Sea”

Washington, along with its allies and partners in the South China Sea region–and indeed, all of the Indo-Pacific area–face a rising China determined to change to status quo in its favor. America and like-minded nations throughout the region must devise a non-kinetic, asymmetric approach to deter Chinese actions and ensure that if Bejing continues on with aggressively altering the status quo it will pay a very high costs for its actions.

 

James Kraska (US Naval War college) phát biểu về việc Trung quốc dùng các đội dân quân trên biển một cách có tổ chức và sự vi phạm luật hàng hải của họ. Bài phát biểu có nhiều hình ảnh minh hoạ, trong đó có một đoạn video một tàu lớn của Trung quốc đâm chìm một tàu đánh cá Việt Nam, hoặc các tàu Trung quốc xích chặt vào nhau để chống lại sự can thiệp của hải quân Nhật bản.

China operates a massive network of fishing vessels and commercial trawlers that operate in conjunction with its law enforcement to change the status quo in the South China Sea. This asymmetric approach avoids overt militarization of the disputes, while rendering a decisive operational advantage to China. China’s maritime militia conduct operations that are inconsistent with the peacetime international law of the sea.

The militia are also posed to see as an iregular naval force multiplier during armed conflict, which circumvents the law of naval warfare and erases the distinction between warships and civilian vessels. China’s maritime militia poses political, operation and legal challenges to its neighbors.

Kraska cũng nhắc tới chuyện biển Đông là khu vực cáp truyền tin hay bị hỏng nhất, và liên hệ với sự có mặt của các tàu dân quân Trung Quốc. Ông nói đó  chỉ là một ý tưởng,  không có bằng chứng nào cụ thể.

 

 

Bạn có thể đọc thêm tường thuật của báo Tuổi Trẻ ở hai link dưới đây. Ý kiến của Cronin được viết lại khá kỹ, ngoài ra có  nhiều thông tin khác về khía cạnh luật pháp.

http://tuoitre.vn/tin/the-gioi/20160508/xung-dot-bien-dong-tham-vong-cua-trung-quoc-qua-ro/1097278.html

http://tuoitre.vn/tin/the-gioi/20160509/bien-dong-tuan-thu-luat-phap-quoc-te-la-dung-dan-nhat/1097527.html