Skip to content

Cảm nhận Tel Aviv

Hai tuần trước mình ở Israel mấy ngày, giảng bài ở đại học Tel Aviv (Mint lectures). Các bạn Do Thái thông minh nghe kỹ hỏi nhiều, vần khách như vần dưa oải cả người ra. Nhưng rồi may  cũng rỗi được một vài buổi  đi chơi.

Tel Aviv là một thành phố tương đối mới, nó  có ưu thế cạnh biển, gần giống Đà nẵng.  Nó có nhiều hẻm như Sai gòn, nơi mà người ta kê bàn ghế ra bán hàng ăn hay quần áo. Có rất nhiều chú mèo hoang đi lang thang. Thật thà mà nói thì thành phố không đẹp lắm.  Nhưng khu phố cổ ở phía Bắc (gọi là  thành phố Jaffa) thì khá thú vị.

Từ khách sạn ở trung tâm đi bộ lên Jaffa chỉ mất chừng 40 phút. Đây là bến cảng cổ nhất của Israel. Người Do Thái đã sông ở đây hàng nghìn năm, nhưng trước họ đã có những dân tộc khác. Nhà cửa xinh xắn, nhà trắng cửa xanh, đậm nét Địa Trung Hải, nhưng cũng không cổ kính lắm, vì thành phố đã bị tàn phá nhiều lần.

Đáng kể nhất,  có lẽ là những nhân vật đã từng đi qua đây, và những việc họ đã làm tại Jaffa.

Bác oách nhất là bác Peter. Không phải ông Peter đệ nhất oai vệ  người Nga. Và càng  không phải  ông Peter Sarnak nhà toán học oai vệ  của Princeton.  Đây là thánh Peter, tông đồ của chúa Jesus. Thánh Peter là tông đồ quan trọng nhất của chúa Jesus. Ông được coi là giáo hoàng đầu tiên của đạo thiên chúa, và là người có công lớn đưa giáo lý của chúa Jesus tới đông đảo tầng lớp nhân dân trong xã hội.

Ngay thời Jesus còn sống, người Do Thái đã có tôn giáo riêng của họ, và xã hội được xây dựng với rất nhiều luật lệ, phân biệt các tầng lớp. Các luật lệ đó một phần vẫn được giữ tới bây giờ, bởi các tu sĩ có râu dài và vẻ mặt nghiêm trọng. Rất nhiều thành phần lao động trong xã hội bị coi là bậc dưới, làm những công việc không sạch sẽ. Các bậc tu sĩ râu dài không giao tiếp với họ, và ngừoi Do thái nói chung cũng không giao tiếp với các dân tộc khác, coi đó là một việc không xứng đáng.

Khi đi qua Jaffa, thánh Peter ở tại nhà một người tên là Simon, làm nghề thuộc da. Nghề thuộc da lúc đó bị coi là một nghề hèn hạ, bẩn thỉu, và nhà của những người làm nghề này cũng buộc phải ở một chỗ riêng biệt, xa những người khác. Và cũng tại đây, thánh Peter đã nhận được lời truyền đạt quan trọng nhất của Chúa.

Tương truyền ông cầu nguyện nửa ngày liền trên gác của Simon, cho tới khi cảm thấy đói và muốn ăn một cái gì đó, thì ông nhìn thấy bầu trời  mở ra, và một tờ giấy ghi tên đủ loại súc vật trên giời dưới  biển, và một giọng thần thánh cất lên “Peter, làm thịt bọn này mà chén !” Trong tờ giấy có rất nhiều món mà người do thái kiêng kị,  thánh Peter sửng sốt ngước lên nói

-Nhưng con không thể ăn được những đồ không sạch sẽ này !

Giọng nói thần thánh lại tiếp tục

-Cái gì mà Chúa đã sinh ra, thì con không thể nói là ô uế !

Vài ngày sau, thánh Peter hiểu ra thông điệp của Chúa không phải là về an toàn thực phẩm.  Chúa muốn nói rằng ngài chấp nhận tất cả những ai đặt niềm tin vaò ngài, không phân biệt giới tính, nghề nghiệp, địa vị hay xuất xứ. Điều này khác cơ bản với qui tắc của nhiều tôn giáo cùng thời, và  trở thành nền tảng giúp cho đạo Thiên Chúa phát triển nhanh và mạnh, lấn át đế quốc La mã và  thay đổi lịch sử thế giới. Theo một số chuyên gia sau nhiều năm nghiên cứu, thông điệp của Chúa, và cùng với nó số phận của nhân loại,  rất có thể đã đi  sang một hướng khác, nếu thánh Peter lúc đó ở  Hànội, và thường xuyên đọc các tin trên VNexpress.

Vị trí ngôi nhà của Simon được xác đinh rõ ràng. Thú vị hơn, trên đó không có một bảo tàng nào, mà có một ngôi nhà khác, trong đó có một gia đình đang sinh sống. Xế cửa có một tấm biển viết lại câu chuyện từ Kinh Thánh. Ngoài ra, gia chủ viết bằng mực tím nguệch ngoạc lên cửa rằng “Ông Simon đã sống ở đây”. Nơi thánh Peter ngồi cầu nguyện, rất có thể đang bị chiếm bởi một chú cún.

Một cặp nhân vật khác, khá quen thuộc với độc giả việt nam (ở tuổi tôi) là cặp đôi hoàn hảo Pécxê và Andrômác. Theo thần thoại Hy Lạp, Andromác là một công chúa xinh đẹp, đến mức bố cô tự hào tuyên bố là cô xinh nhất quả đất. Điều này đến tai các nàng tiên cá, mặc dầu không có chân dài, nhưng lại hay GATO. GATO thì cũng chẳng sao, nhưng bố của các nàng tiên cá lại là một ông vua to hơn, cái này mới rầy rà. Ông vua này chính là Néptuyn, thần của biển cả. Ngài  cũng có râu dài như các tu sĩ Do Thái, nhưng ngoài ra còn có một cái đinh ba rất khủng. Cụ Néptuyn xót các con gái, liền thả một chú thuỷ quái ra  phá hoại cả thành phố, buộc ông vua trên cạn phải đem nàng Andromác tội nghiệp   buộc lên một hòn đá trên biển, để thuỷ quái ăn thịt. Hòn đá đó tương truyền ở Jaffa. Nếu từ quảng trường chính đi bộ chừng dăm phút, bạn sẽ đến một cái cầu thang nhỏ nhỏ dẫn lên một cái gác, từ đó có thể nhìn ra hòn đá này. Thật  ra thì trông nó cũng không to lắm, chứng tỏ thuỷ quái chỉ là dạng cá mập búa là hết cỡ, chứ không hoành tráng như trong phim Mỹ.

Truyện sau đó xảy ra như ta đã biết, chàng Pecxe dũng cảm đẹp trai đi ngang qua, ngỡ ngàng trước nhan sắc của công chúa. Cuộc chiến đấu không cân sức diễn ra, Pecxe với ưu thế tuyệt đối về không lực, cộng với vũ khí siêu mạnh là đầu quỉ Mêdudás, trong phút chốc đã biến thuỷ quái đáng thương  chỉ có răng và đuôi thành quá khứ. Néptuyn nhận ra Pécxê  chính là thằng cháu mình,  vả lại tiếc của, nên không thả thêm chú thuỷ quái khủng hơn nào ra nữa. Đám cưới  linh đình.

Không tương xứng với lịch sử huy hoàng, bữa trưa ở Jaffa chỉ có một chú cá rất gầy.

Xếp cam

Bạn có một đống cam sành, vỏ rất rắn. Làm sao xếp chúng vào một cái hộp có thể tích bé nhất ?  Hay nói cách khác, phần trống giữa các quả cam có thể tích ít nhất.  Để làm toán cho dễ, ta tưởng tượng tất cả các quả cam to tròn bằng nhau, và đều rất chua.

Bài toán này được Kepler đặt ra vào năm 1611. Ông vẽ ra hai cách xếp cam, cả hai đều xếp đầy đươc chừng 3/4 thể tích của hộp (số chính xác là \pi/ \sqrt 18).  Các bác bán cam thật ra đã dùng các cách xếp này để bày cam ngoài chợ trước Kepler từ lâu. Nhưng Kepler hơn các bác ở chỗ ông nghĩ rằng không thể xếp nhiều hơn nữa, mặc dầu ông không chứng minh được.  Cái này về sau trở thành một bài toán rất nổi tiếng là giả thuyết Kepler trong hình học tổ hợp.

Cách đây hơn chục năm, có bác Hales viết một chứng minh vô cùng dài về giả thuyết Kepler. Cách của bác dùng máy tính rất nhiều (250 trang + 3gigabit dữ liệu) và rất phức tạp.  Mặc dầu báo Annals of Math.  uy tín đã đăng, nhưng các phản biện cũng nói thẳng ra là họ không chắc 100% về các tính toán trong bài. Bác H. được tặng giải Fulkerson năm 2009.

Không chắc là không chắc thế nào ? Bác H. cáu, và quyết phải làm cho ra nhẽ. Trong vòng 10 năm, bác viết một chương trình  gọi là Flyspeck, với mục đích dùng máy tính kiểm tra tính chính xác của cách chứng minh. Dự án này một phần được thực hiện ở Việtnam (xem báo Thông tin toán học, 2015). Theo công bố gần đây của bác H. và đồng nghiệp, chương trình của bác đã thành công rực rỡ và xác định rằng chứng minh trước đó của bác là đúng 100%.

Mình thì chắc chắn là chứng minh của bác đúng rồi, cóc cần anh Flyspeck, vì bác là người yêu Việtnam, đến làm việc rất thường xuyên. Nhưng cái anh Flyspeck này, lại gợi ra lắm vấn đề.

Thứ nhất, thật thà mà nói  người ta muốn chứng minh một giả thuyết toán học là vì muốn biết tại sao nó đúng, đằng sau nó thực sự là vấn đề gì, những ý tưởng trong chứng minh dùng được vào việc gì khác vv, chứ còn bản thân cái sự đúng của giả thuyết không mấy quan trọng.  Bản thân cái mệnh đề x^n + y^n \neq z^n của bài toán Fermat đúng hay sai không có ảnh hưởng gì lớn, vì ít ai dùng nó làm gì, cái ảnh hưởng lớn là các ý tưởng (nhiều khi được phát triển lên thành cả một lý thuyết) để giải quyết bài toán này. Việc này Flyspeck không làm được, và các ý tưởng lớn sau chứng minh của giả thuyết Kepler là gì, có vẻ ít người biết.

Vấn đề thứ hai liên quan môt chút về mặt kỹ thuật. Chương trình Flyspeck chạy mất mấy nghìn giờ, hiển nhiên các tính toán thao tác của nó rất phức tạp. Cu máy tính cũng thỉng thoảng sổ mũi hắt hơi. Nhỡ trong mấy nghìn giờ đấy nó sai lỗi đánh máy, bố ai biết được.  Sai số trong các tính toán máy tính, lúc nào cũng có. Chỉ có điều trong các bài toán định lượng, nó không đánh kể lắm. Chẳng hạn kết quả chính xác là 342.029988356  mà máy tính tính ra là 342.029988357, thì trong ứng dụng không có thay đổi gì lớn. (Vả lại ta cũng không biết kết quả chính xác là gì để so sánh.)   Nhưng khi câu trả lời là định tính, 0 hoặc 1, thì có thể tình hình sẽ khác. Bạn có thể tưởng tượng máy tính phải cộng 10 tỷ tỷ tỷ số nguyên, mỗi số là 1 hoặc 0, nếu chẳng hạn một số bị flip từ 0 sang 1 hay ngược lại, kết quả cuối cùng không thay đổi bao nhiêu. Nhưng nếu ta chỉ quan tâm đến kết quả cuối cùng là chẵn hay lẻ thôi, vấn đề thay đổi hoàn toàn.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhân vật lịch sử: Đào Duy Từ

Đào Duy Từ là nhân vật kiệt xuất  thời Trịnh Nguyễn phân tranh, có ảnh hưởng  lớn đến sự phát triển của người Việt về phương Nam.

Đào Duy Từ quê Thanh Hoá. Bố ông mất sớm. Ông kiến thức sâu rộng,  nhưng vì lý lịch gia đình phường chèo mà phải khai man tên họ để đi thi. Hơn 20 tuổi đã đỗ Á nguyên, nhưng  việc man trá vỡ lở, rốt cuộc bị lột mũ áo đuổi về quê. Người mẹ buồn mà mất.  Đào Duy Từ mai danh ẩn tích hai mươi năm rồi vào Đàng Trong tìm đường giúp chúa Nguyễn. Truyện chép lại ông (lúc đó đã hơn năm muôi tuổi) phải đi chăn trâu cho người ta. Người bạn của chủ nhà biết tài, gả con gái cho ông rồi tiến cử lên chúa Nguyễn. Chúa nói chuyện với ông rất phục, từ dưới đầu trâu mà nhắc thẳng lên làm tể tướng.

Tình hình Việt Nam đầu thế kỷ 17 tương tự thời Tam Quốc. Chúa Trịnh lập vua Lê lên ngôi, nhưng giữ hết quyền hành. Nguyễn Hoành vào trấn thủ Thuận Quảng, xây dựng căn cứ phía Nam. Ngoài Bắc dư đảng của nhà Mạc vẫn giữ Cao Bằng. Đến lúc Đào Duy Từ lên nắm quyền (1627), nhà Mạc đã về hàng chúa Trịnh, Trịnh Tráng quyết tâm bình định phương Nam. Thế lực họ Trịnh hơn họ Nguyễn nhiều lần.

Đào Duy Từ chấp chính, chủ trương đắp luỹ để phòng thủ, Đàng Trong lực lượng mỏng hơn nhưng nhờ chiến luỹ chắc chắn chặn được biết tiến của chúa Trịnh, quân dân không bị tổn hại nhiều. Ông giúp chúa Nguyễn xây dựng  được đinh chế chính quyền rất được lòng dân, đặt nền móng cho một thể chế lâu dài. Ông lại bày chủ trương lớn Nam tiến khai khẩn mở mang bờ cõi. Tất cả những việc đó được làm trong vỏn vẹn 8 năm, từ lúc Đào Duy Từ được trọng dụng đến khi ông mất (1634).  Người Đàng Trong tôn ông làm Thầy (các chiến luỹ Đào Duy Từ và tướng lính của ông đắp sau gọi chung là luỹ Thầy).  Gần hai trăm năm sau vua Gia Long lên ngôi, phong ông làm đệ nhất khai quốc công thần của nhà Nguyễn, thờ trong Thái Miếu cùng các chúa Nguyễn.

Hơn nghìn năm trước  bên Tàu có Khổng Minh (Gia Cát Lượng), cũng là học trò ra giúp Lưu Bị lập nhà Thục Hán, chống lại Bắc Nguỵ là lực lượng mạnh hơn. Sự nghiệp Đào Duy Từ ở Việt Nam có thể không nhiều người biết, nhưng Khổng Minh thì  ai cũng biết, qua truyện Tam Quốc của La Quán Trung rất hấp dẫn, và gần đây là phim Xích Bích  và trò chơi on-line.

Hai người hoàn cảnh hao hao giống nhau, nhưng ngẫm  lại có một cái khác rất cơ bản. Khổng Minh theo giúp  họ Lưu đến gần 30 năm, sau khi Lưu Bị mất, ông được toàn quyền mọi việc trong ngoài. Đời sau viết nhiều không kể xiết về mưu hay kế lạ của Khổng Minh. Nhiều việc như kiểu  trâu gỗ ngựa máy hô gió gọi mưa thật hư không thể nói hết. Nhưng sau khi ông mất, nhà Thục Hán chỉ lay lứt được thêm 30 năm  rồi đổ.  Người được Khổng Minh coi là học trò ruột, luôn ca ngợi và  gửi gắm là Khương  Duy chỉ ham việc chinh chiến, đất nước khánh kiệt  mà dẫn đến bại vong.

Đào Duy Từ  ở với chúa Nguyễn vỏn vẹn  8 năm, mà đặt được nền móng 100 năm cho cơ nghiêp của các chúa Nguyễn, được nối tiếp thêm bởi  các vua nhà Nguyễn sau đó. Những người được ông tiến cử như Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến chẳng những giữ được thế cân bằng về quân sự với Đàng Ngoài, mà còn góp phần quyết định cho cuộc khai khẩn phương Nam của người Viêt. Con trai Nguyễn Hữu Dật  là Nguyễn Hữu Cảnh là người   xác định chủ quyền của người Việt tại Sài gòn-Gia Định.

Thuở còn ở ẩn, Đào Duy Từ có làm bài phú Ngoạ Long Cương để ví mình với Khổng Minh. Nhìn sự nghiệp mà xét,  xem ra  đồng nghiệp người Tàu còn có chỗ phải bẽn lẽn.

Phố Đào Duy Từ ở Hà nội là một phố nhỏ, cạnh Ô Quan Chưởng,  dài độ 300m. Nhiều nhà kiểu cố và  có nhiều kho gạo. Hồi tôi còn bé có lẽ đây  là phố duy nhất ở Hà Nội mang tên một nhân vật Đàng Trong.

Voi

Dạo này xôn xao lên vì voi.

Thế quái nào, mình lại thấy chú voi bốn bánh rất nhộn và gợi. Dĩ nhiên, với đôi ngài bằng giấy bồi, chú và cái cô ngồi trên chú có tài thánh cũng chẳng gợi được khí thế hào hùng của anh hùng dân tộc.  Thế nhưng, bốn cái bánh của chú nhẹ lướt trên đường, lại gợi đến một thứ khác, từ một quá khứ gần hơn. Ấy là cái xe bánh mì.

Xe bánh mì là đặc sản của những năm đầu thập kỷ 80. Đó là khi bọn nhóc chúng tôi, ngoài gạo,hay thay gạo, hấp thụ  rất nhiều các loại chất bột khác, từ khoai, sắn, bo bo, tới cao cấp hơn cả  là bánh mì. Bánh mì này chẳng phải bánh mì bạn đang cầm tay,  dòn, nhẹ và xốp và bên trong có thịt đâu. Bánh mỳ của Liên xô, to nặng, bên trong có nhiều bột mì,  vỗ kêu bồm bộp, và đôi khi cũng rất bền vững nếu răng bạn không tốt. Bánh được phân theo phiếu gạo, không thích ăn cũng phải lấy. Không nhớ một cân gạo được mấy cân bánh, cái này chắc phải hỏi các cụ.

Nhưng lấy  bánh về  như thế nào ? Đây là lúc  xe bánh mì tỏ ra quan trọng. Đó là một cái xe, hay thùng di động thì đúng hơn, khá to và có một cửa để lấy bánh ra, được đẩy trên bốn bánh về từng phố bởi một hay hai chị mậu dich viên lúc nào trông cũng rất oai vệ.  Xe màu xám, dài dài, vuông vuông, kể ra thêm cái vòi vào, thì giống đáo để.

Trẻ con phố tôi rất gắn bó với xe bánh mì. Tại sao nhỉ ? Bánh quá ngon chăng ? Lý do này, như bạn có thể đoán biết,  đã được Liên Xô kiên trì  loại bỏ. Lý do thật oắi ăm hơn nhiều.

Số là cái chú xe bánh mỳ/voi này có thể chứa đến cả nghìn cái bánh, đủ cho mấy phố. Cái nào bị vứt vào tận trong, nằm hấp hơi cả ngày thì chẳng gẫy nát cũng rất khó xơi.  Bọn nhóc chúng tôi, được bố mẹ phân công đổi bánh mỳ, đứng trước một nhiêm vụ bất khả thi là làm sao lấy được các chú bánh ở phía ngoài, hãy còn lành lặn và tương đối mới.

Ý tưởng đơn giản là ra xếp hàng sớm, đúng không ?  Nếu bạn có ý tưởng này, thì hoặc bạn còn rất trẻ, hoặc đã có một thời niên thiếu vô cùng êm ả.  Chuyện xếp hàng chắc phải viết một bài rất dài, nhưng tóm tắt thì như thế này. Trong thời buổi này, ta phải ra sân bay sớm 2 tiếng, đôi khi phải đợi thêm nửa tiếng lúc cất cánh,  đã cảm thấy mất thì giờ và cáu lắm, bức xúc lắm. Những năm 80, nếu thông báo là 3 giờ chiều xe bánh mì về, thì lúc 10 giờ sáng ở chỗ xếp hàng đã có chừng 10 mét gạch rồi. 10 mét không hẳn là rất dài, nhưng độ đo của những viên gạch này vẫn là một bí ẩn với toán học hiện đại. Đôi khi chúng đại diện cho một người, một gia đình, đôi khi chúng đại diện cho cả một ngõ, với số dân mà nếu ta bổ nhỏ gạch ra để đại diện cho từng người, thì phải xuống  đến đơn vị phân tử. Thấy vậy, tốt nhất là  về đợi đến hôm sau.

Trẻ con cực thông minh. Và một thằng trong bọn đã nảy ra một ý nghĩ thiên tài  mà trong thời  đại này khéo  đủ để làm cơ sở để  lập  công ty. Đó là đi đẩy xe giúp các cô mậu dich viên oai vệ. Các cô trở nên nhàn tênh, bù lại các tình nguyện viên được lấy bánh mới. Thế là tuần hai lần,  chừng hai giờ chiều,  có một đoàn các  nhóc trên dưới mười tuôi lên chực sẵn ở của hàng bánh, chỉ đợi các cô ra là tóm lấy với một sự nồng nhiệt hiếm có.

Nếu bạn đấy chú xe này tuần hai lần, trong vòng vài năm, thì sẽ trở nên thân thuộc với nó, cũng như người quản tượng với chú voi con vậy.

Chém hay không chém ?

Chém đây là chém lợn, một chủ đề nóng hổi đã lên đến tận quốc hội. Việc đã lên đến chốn  ấy, ắt phải quan trọng kinh.

Số là làng Ném Thuợng ở Bắc Ninh có một tập tục lâu đời là đầu năm các cụ đem một chú lợn béo ra chém làm hai.  Lợn dĩ nhiên chết, sau đó sẽ thành chả nem như tất cả các lợn khác. Ai đó  quay video bỏ lên mạng,   máu me rùng rợn, trẻ con người lớn đều không nên xem.  Nghe nói có một uỷ ban ở tận bên Tây đã đề nghị rằng các cụ Bắc Ninh không được làm như thế nữa.

Việc các tập tục ở làng quê bị lên báo dưới sự soi xét của các học giả văn minh chẳng phải bây giờ mới bắt đầu. Ví dụ, trong những năm 30-40 của thế kỷ trước, cụ Ngô Tất Tố đã có nhiều bài về những việc này.

Làng ở Việt Nam, nhất là đồng bằng Bắc bộ, oai nhất là ông thành hoàng. Trong mắt người nông dân, ông thành hoàng là một biểu tượng tâm linh,  che chở cho cả làng.  Các nghi thức cúng tế trong làng, liên quan đến ông rất nhiều. Ở nước Nam ta, lệnh vua cũng thua lệ làng, đủ biết các nghi thức này quan trọng đến đời sống dân làng thế nào.

Các nghi thức này có chỗ hay là chẳng đâu giống đâu, vì nghi thức làng nào phụ thuộc vào cái thành phần xuất thân của thành hoàng làng đó. Mà cái thành phần này thì vô cùng đa dạng, nên lễ nghi cũng nhiều chỗ oái oăm.

Nếu tôi nhớ không nhầm, cụ Tố viết một phóng sự về chuyện cụ đi qua một làng, bỗng tiếng kêu trộm nổi lên rầm rĩ, rồi một đoàn người khí thế, đèn đuốc sáng trưng, đuổi theo một bóng đen ôm một cái hộp, tiếng hô tiếng mõ  vang một góc trời. Trộm mà bị cả làng ra đuổi, phen này chết chắc.

Nhưng anh trộm này, chạy đi đâu không chạy, lại chạy thẳng ra đình.  Người làng cũng chạy hết ra đình. Cụ Tố ra đến nơi thì chẳng thấy trộm đâu hết, chỉ thấy cả làng hỉ hả, nét mặt vui mừng.

Thì ra thành hoàng làng là một anh trộm. Anh đến làng ăn trộm bị chết, nhưng lại chết vào giờ thiêng.  Thế nào là thiêng thì chịu, nhưng làng phong anh làm thành hoàng. Từ đó cứ đến ngày, cả làng diễn lại tích anh bị đuổi, với một cụ tiên chỉ đóng  vai thành hoàng. Cụ chạy được ra đình đúng vào giờ thiêng thì cả năm mưa thuận gió hoà, làm ăn phát đạt. Những tập tục đó, bây giờ không biết còn được bao nhiêu.

Bây giờ quay lại  Ném Thượng. Cụ thành hoàng ở Ném Thuợng oai phong, chính là  Đoàn Thượng  tướng quân đời nhà Lý. Tục chém lợn bắt đầu từ sự tích cụ đóng quân ở làng, thiếu lương nên chém lợn rừng để khao quân. (Cụ Đoàn Thượng này báo không viết rõ, nhưng nếu là Đoàn Thượng thời cuối Lý đầu Trần, thì lai lịch cụ rất lớn, chẳng phải người thường.)

Uỷ ban ở bên Tây bảo vệ động vật đề nghị không được chém chú lợn như thế, thì cũng có lý,  nhưng uỷ ban này chuyên bảo vệ động vật thôi, nên chắc chưa  nghiên cứu quan tâm nhiều đến nông dân Việt Nam.

Sự việc ầm ĩ lên, người chém cũng nhiều mà không chém cũng chả ít. Bên chém lý luận rằng là ngày nào các bạn cũng chén thịt, chẳng lợn thì bò gà, không kho thì rán, thế mà chẳng dã man à. Chưa nói đến các bạn Nhật bản còn ăn sống nuốt tươi.  Bên không chém, hoặc là chuyển sang ăn chay, ít nhất tạm thời, hoặc bảo là, lợn bò gà nuôi thịt, nó khác, không bị giết một cách man rợ thế. Các bậc nhà báo, tiến sĩ, giáo sư, đại biểu quốc hội,  đều vào cuộc, xôn xao.

Nhân vật quan trọng  nhất không được hỏi ý kiến, chính  là các chú ỉn.  Chẳng biết uỷ ban bên Tây thấy thế nào, chứ mình thấy bên Tây gia súc có thể bị thịt một cách êm thấm hơn chú ỉn ở Bắc Ninh, nhưng mà chúng đã sống khổ hơn rất nhiều.  Anh ỉn ở Bắc Ninh là hàng tuyển, được gọi một cách tôn kính là Ông Ỉn, nhà nào mát tay, hợp tuổi mới được nuôi, được ăn đồ organic, tắm rửa thường xuyên, vỗ béo vài năm rồi mới thành chả nem. Còn lợn bán hàng ngày ở siêu thị Mỹ,  phần lớn từ lúc đẻ ra đến khi thành chả nem (mà thường là cũng không ngon lắm), chưa bao giờ nhìn thấy ánh nắng mặt trời cả. Có một phim tài liệu về nuôi gà, họ  quay cảnh gà công nghiệp bị nhốt chen chúc trong chuồng, tới mức có những con cho tới lúc lên đĩa chưa bao giờ được đặt chân xuống đất ! Rất nhiều bạn tôi  xem xong phim đã bỏ ăn thịt gà tới cả tháng (sau đó ăn tiếp). Nếu được có ý kiến, dám chắc tất cả bọn lợn nuôi ở Mỹ sẽ tranh nhau  sang Bắc Ninh xin  làm ông ỉn hết.

Một thành phần  nữa cũng ít được hỏi đến, là các cụ ở Ném Thượng. Lệnh uỷ ban ban xuống, là các cụ không được chém thế nữa, nên mấy năm nay, hội cũng ít đông. Các cụ thủ đao chỉ biết ngồi buồn, trách móc anh Steve Jobs tự dưng nghĩ ra cái iphone, làm các cụ phải lên mạng. Người làng phần lớn muốn giữ hội của họ, nhưng việc đã to lên tận quốc hội, sang tận bên Tây, thì không phải đùa. Nan giải !

Giá mà thoả thuận được với các bên liên quan (ủy ban bên Tây, quốc hội, các cụ Ném Thượng và các anh lợn), xin đề nghị một giải pháp sau. Ta sẽ rèn và lắp cho ông ỉn một bộ răng nanh như lợn rừng, và cụ thủ đao sẽ chiến đấu với ông như ngày nào Đoàn tướng quân đã làm, dưới sự giám sát của tổ trọng tài quốc tế.  Chẳng những lịch sử hào hùng được diễn lại,  việc này còn có 3 tác dụng:

(1) Lượng khách du lịch  chắc chắn tăng gấp 5. Không khéo làng sẽ thành điểm cần phải đến của các tour xuyên Việt.

(2) Ỉn sẽ đứng trước một cơ hội lớn.

(3) Cụ thủ đao và thanh niên trong làng có cơ hội rèn luyện võ nghệ thể lực, ở mức dù  nếu chưa đặt chuẩn của Đoàn tướng quân, thì cũng có thể chạy thật nhanh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhật ký Yale: Hoa hậu và Giáo sư

Hôm nọ em hoa hậu trót nói mấy câu tiếng Pháp. Thế là ồn hết cả lên. Tội nghiệp cô bé chẳng tội tình gì nhiều mà hứng bao nhiêu là gạch.

Chẳng tội tình gì nhiều là theo ý kiến cá nhân của mình, một người vào lúc 19 tuổi chưa nói được tiếng gì lưu loát  ngoài tiếng Việt cả. Mặc dầu đã được dậy tiếng Nga 6 năm từ cấp 2 đến cấp 3, nhưng thú thật là đi tàu hoả từ Maxtcova sang Budapest trong vòng hai ngày không làm thế nào mua nổi táo.

Mình chẳng thạo tiếng Pháp, nên không biết em nó phát âm sai cái gì, nhưng mà chắc chắn đã từng được nghe rất nhiều giáo sư quốc tế nói tiếng Anh không thể dở hơn, ngoài ra số đo lại còn rất  không chuẩn nữa.

Chuyện sau đây  do một đồng nghiệp rất đáng kính vừa kể lại nhân buổi họp khoa đầu năm:

Giáo sư T. là một nhà toán học lỗi lạc người Nhật. Cụ phát minh ra một chỉ số rất quan trọng, gọi là chỉ số… T. Theo lời của một anh bạn, chỉ số này thường có hai giá trị, hoặc là 1, hoặc là 2.  Nhưng khi nào là một, khi nào là hai, thì huyền bí không chịu được.

Một chuyện còn huyền bí hơn, là cụ T., mặc dầu là giáo sư tại Yale hơn 30 năm, không biết nói tiếng Anh. Nói vậy thì cũng hơi quá, theo lời các đồng  nghiệp lớn tuổi, thì cụ nói tiếng Anh giống như những người Nhật khác. Phải cái không phải  giống như người Nhật sống ở Mỹ, mà là giống như người Nhật sống ở Nhật.

Chuyện đến hồi gay cấn là có một giai đoạn cụ T. phải làm trưởng khoa. Trong tâm lý người Việt,  trưởng khoa là một chức oách xà lách,  có quyền sinh sát. Ở Mỹ, trưởng khoa là một cách nói sang trọng cho một chức vị hay được Ngô Tất Tố nhắc đến trong các tác phẩm của ông—ấy là mõ.  Trừ một vài trường hợp đặc biệt, các giáo sư  đang giai đoạn làm nghiên cứu sung sức tìm mọi cách để trốn không phải làm trưởng khoa. Chức này thường 3 năm thay một lần, và tôi có không ít đồng nghiệp xấu số cứ mỗi ngày lại gạch một gạch lên quyển lịch của họ  để tính ngược cho đến khi hết nhiệm kỳ của cái chức vị không cầu mà đến này.

Nói không cầu mà đến là vì khoa toán của Yale không có nhiều người, sớm muộn thì cũng đến lượt bạn phải làm. Và một ngày, số phận gõ cửa cụ T., và cụ, như những người Nhật đầy tinh thần trách nhiệm khác, đứng lên gánh lấy gánh nặng của mình.

Cái gánh này hơi nặng hơn lẽ thường một chút, vì nhiệm vụ chính của trưởng khoa là lên gặp các vị ở trên (tức là ban giám hiệu) để xin tiền. Cái này rất khó, nếu bạn lên gặp ban giám hiệu một trường đại học ở Mỹ và không nói tiếng Anh.

Cụ T. có một cách giải quyết tài tình, là cụ dùng thông ngôn. Thông ngôn là giáo sư A., người bản xứ và có khả năng diễn giải rất tốt.

Thường thì các cuộc gặp mặt giữa cụ T. và ban giám hiệu diễn ra như sau. Sau khi yên vị, cụ dõng dạc:

I want M !!

(M. là ký hiệu chung cho yêu cầu của khoa toán vào thời điểm đó: có thể là tiền, máy tính, phụ cấp cho sinh viên vv)

Trong vòng 15 phút  tiếp theo, giáo sư A. dùng hết khả năng hùng biện để giải thích cho ban giám hiệu đáng kính là tại sao khoa lại cần M. Trong 15 phút  tiếp theo nữa, ban giám hiệu dùng hết khả năng hùng biện để giải thích cho giáo sư A. là tại sao trường không thể đáp ứng yêu cầu của khoa được. (Cái này là phản xạ tự nhiên của các ban giám hiệu, không phụ thuộc vào trường nào,  M. là gì và giáo sư A. là ai.)  Trong khoảng thời gian đó, cụ T. ngồi thẳng lưng, với vẻ mặt bình tĩnh của một samurai chân chính, và có lẽ  không cần hiểu hai anh bản xứ đang líu lo  gì hết.  Sau nửa tiếng tranh cãi kịch liệt, hai giáo sư bản xứ quay ra, như chờ đợi  ý kiến của vị trưởng khoa.  Cụ khẽ nhíu mày, thở nhẹ:

–I want M !!

Chẳng cần nói, sau khi sự việc lập lại đến chu kỳ thứ ba, thì ban giám hiệu, dù hết sức ngoan cố, cũng không thể chịu nổi nữa, và phải xì tiền ra.

Cụ T. là vị trưởng khoa ưu việt nhất của khoa toán trong mọi thời đại.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Khổng Tử

Năm hết Tết đến, Đại học  Hà Nội mở ra viện Khổng tử.

Vì lý do dễ hiểu, chuyện tức khắc gây ồn ào. Thật ra,  chẳng có viện Khổng Tử, ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa cũng đã  mạnh ở Việt Nam.  Không tin bạn hãy tìm một ngôn ngữ mà ngay cả việc đau bụng cũng được diễn tả một cách rất sinh động  qua hình ảnh một nhân vật nước ngoài.

Trong bài này tôi không có ý định  phân tích  viện, mà nói  về cá nhân Khổng tử,  một người, theo tôi, vô cùng thú vị.

Khổng tử (tên thật là Khổng Khâu), sinh tại nước Lỗ thời Xuân Thu. Trong thời này, Trung Quốc (nhỏ hơn ngày nay rất nhiều)  thuộc nhà Chu. Các vua nhà Chu chỉ cai trị trên danh nghĩa, lãnh thổ được chia thành mấy chục nước lớn nhỏ, cai trị bởi các lãnh chúa. Các anh lãnh chúa này đánh nhau liên hồi. Từ “bá chủ” có lẽ ra đời trong thời gian này, chỉ nước mạnh nhất, được quyền thay vua nhà Chu ra hiệu lệnh cho các nước kia.  Người đầu tiên trong “ngũ bá” là công tử Củ  nước Tề (Tề Hoàn Công).

Ta đều biết đến Khổng Tử  với tư cách một nhà triết học, người mở ra  một học thuyết lớn. Nói đến cụ Khổng cụ Mạnh, phần nhiều ai cũng nghĩ tới các cụ già đạo mạo mũ áo chỉnh tề, râu dài lơ phơ, với một mớ lý thuyết cứng quèo, đại diện bằng tiên đề  “nam nữ thụ thụ bất thân”, mà toàn bộ nhân loại giữa độ tuổi giữa 15và 75,  đã, đang và sẽ còn,  phản đối bằng rất  nhiều hành động cụ thể.

Hình tượng như vậy là lẽ tất nhiên, vì ông đã được các anh vua Tàu phong thánh. Phàm  một khi các anh vua phong thánh ai, mục đích  khá rõ ràng.  Tư tưởng của ông cũng được cải biên dần dần, phục vụ cho mục đích đó.

Trong thực tế, Khổng tử là một ngừơi  tài hoa và đa dạng, xuất thân nghèo khó, cuộc đời bươn chải,  rất khác so với các nhà triết học bàn giấy.  Xin không bàn  lý thuyết của ông (mà một phần quan  trọng  là được gán cho ông); nó đã được phân tích bởi hàng nghìn học giả.  Một số việc làm cụ thể của ông  rất đáng chú ý, ngay cả với cách nhìn hiện đại.

Như đã nói trên, Khổng Tử người nước Lỗ. Nước Lỗ là nước nhỏ, gần nước Tề. Nước Tề là nước mạnh thời Xuân Thu.  Về diện tích, nhân lực, tài vật, Lỗ đều thua kém nhiều lần. Giữa hai nước thường xuyên diễn ra tranh chấp, và phần lớn người Lỗ  phải chịu thiệt. Trong thời gian Khổng Tử ở nước Lỗ, nước Tề tuy không còn làm bá chủ, nhưng vẫn rất mạnh, dưới sự lãnh đạo của một chính trị gia lão luyện là Án Anh.

Ước vọng lớn  của Khổng Tử  là trở thành nhà chính trị, để được thực hiên phương pháp  của mình.  Ông  được  cầm quyền nước Lỗ trong một thời gian ngắn, nhưng đã kịp chấn chỉnh chính trị trong nước, đem đến một  sự thay đổi nhanh chóng. Trong mối quan hệ ngoại giao với Tề, ông đặt ra các tiêu chuẩn ngoại giao hợp lý, dùng lý lẽ mà đấu tranh. Người Tề đuối lý, vua Tề xấu hổ phải tạ lỗi bằng cách giả lại nước Lỗ một số đất đai cướp ở biên giới.  Sau một thời gian, người Tề lo sợ nước Lỗ với đường lối  sáng suốt, minh bạch,  sẽ trở thành bá chủ, thôn tính họ, rốt cuộc phải  dùng kế phản gián để  vua Lỗ không tin dùng Khổng Tử.

Các triều đại phong kiến Trung quốc đời sau, khi rao giảng đạo Khổng, tuyệt đối đề cao tư tưởng “trung quân”. Lý do thì, ha ha, trẻ con cũng hiểu. Nhưng mà “quân” là gì, thì lại hay bị quên mất.

Khổng tử quan niệm nhà vua/ người đứng đầu (quân) cần được lựa chọn theo tiêu chuẩn tài năng và đạo đức, thay cho giòng giõi. Ý tưởng này đi trước thời đại của ông rất nhiều. Bản thân Khổng tử không trung thành mới một ông vua nhất định. Khi thấy vua nước Lỗ không thể phụng sự được, ông đã đi  nhiều nơi để tìm một người xứng đáng.

Trong thời gian phiêu bạt đó, nhiều  lúc ông lâm vào cảnh khốn cùng, nhưng lúc nào cũng  không ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức, soạn sách, dạy học. Mặc dầu được coi là tôn sư, thái độ học tập của ông rất nghiêm túc, chẳng hạn phương châm:

Biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, vậy mới thật là biết.

Việc nghe đơn giản vậy, không phải ai cũng làm được. Trong giới hàn lâm hiện nay (ngay cả tại Âu-Mỹ), không ít người đi ngược lại nguyên tắc này. Khoa học rất rộng lớn và phát triển với tốc độ chóng mặt. Ví dụ toán hiện đại có mười ngành, người giỏi lắm biết kỹ càng được 1, và hiểu cơ bản được  một số lĩnh vực của 2-3 ngành liên quan. Thế nhưng khá nhiều vị, vì đã trót mang tiếng cây đa cây đề, tự tạo thành thói quen cái gì cũng phải biết, phải phát biểu, khổ cả người nói lẫn người nghe. Trẻ con không hiểu gì, lại tưởng là khuôn vàng thước ngọc, tội nghiệp vô cùng.

Học trò của Khổng tử rất đông. Ông là hiệu trưởng kiêm giảng viên chính của một trong những trường đại học dân lập đầu tiên trên thế giới (nghe nói học phí cũng rất phải chăng; học trò nghèo được chu cấp). Đến lúc ông mất, số học trò  lên tới 3000, trong đó có  72 người đạt danh hiệu giỏi toàn diện, như Tử Lộ, Tử Cống, Nhan Hồi, Tăng Sâm.

Đời sau  nói đến lễ giáo của đạo Khổng,  thường đề cao lễ thầy trò. Đó là một lễ nghi  đẹp, và người châu Á làm tốt hơn người Âu-Mỹ. Ngày 20-11 là một ngày rất có ý nghĩa; Mỹ , như tôi biết, chưa có ngày nào tương tự. Điều này lại càng trở nên thú vị hơn nếu bạn đọc một số tranh luận giữa Khổng tử và học trò (đều trong số giỏi toàn diện). Về mặt học thuật, các cuộc tranh luận này rất bình đẳng, trong đó những người như Tử Lộ thẳng thắn phản biện các quan điểm của thày.

Khổng tử  có óc  hài hước.Ông  đi đâu thường có nhiều học trò đi cùng, ôm điếu cắp tráp.  Một hôm thày trò lạc nhau, ông không biết làm gì, đành ra  đứng ở cổng thành đợi, học trò nháo nhác đi tìm. Có một người bảo Tử Cống

– Ở cửa phía đông có một người trán giống Nghiêu, cổ có vẻ Cao Dao, vai ông ta giống Tử Sản, nhưng từ lưng trở xuống thì kém vua Vũ ba tấc, có vẻ băn khoăn lo lắng như con chó ở nhà có tang. (Các cụ Nghiêu, Cao Dao, Tử Sản vv đều là nhân vật rất tên tuổi bên Tàu.)

Khi gặp nhau, Tử Cống nói lại với Khổng Tử. Ông mừng rỡ cười mà rằng:
– Hình dáng bên ngoài là chuyện vụn vặt, nhưng nói “giống như con chó của nhà có tang” thì đúng làm sao! Đúng làm sao!

Con chó nhà có tang  cuống quít chạy ra chạy vào. Người ra vào đông như ngày hội, nhưng nét mặt lại buồn thảm, vẫy đuôi cũng dở mà không vẫy đuôi cũng dở. Chi tiết tuy nhỏ, nhưng đặc biệt. Trong các triết gia được nhân loại tôn vinh, chưa thấy ông nào được so sánh với chó (chó trong văn hoá Trung Quốc hay châu Á nói chung khá khác hình ảnh chó trong văn hoá châu Âu, và được so sánh với chó thường không phải việc đáng tự hào).

Chẳng những là một học giả, Khổng tử rất giỏi các môn thực hành. Ông có thân hình to cao, là một nhạc sĩ có tài, một cung thủ và một kỵ sỹ chuyên nghiệp.

Giá ông sinh thời này ở Mỹ, thì sự nghiệp chính trị chắc phải xán lạn hơn nhiều. Gì chứ chức ứng cử viên nặng ký cho ngôi tổng thống không cần phải nói.

 

 

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 353 other followers