Skip to content

Tuổi thơ chỉ một…

Trường Chu Văn An, cho đên năm 1985, có một lớp tương đối ít học sinh hơn, nhưng  không kém nghịch hơn các lớp khác. Đó là lớp chuyên Toán của thành phố Hà Nội, tên lớp mang chữ I (10I, 11I, 12I). Từ năm 1985 trở đi, các lớp chuyên, được đặt rải rác ở các trường trong thành phố, được chuyển hết về Hà Nội-Amsterdam.

Tôi theo học một trong những lớp chuyên Toán  cuối cùng này ở Chu Văn An. Con đường vào cấp 3 thật cheo leo. Ở cấp 2, tất cả các quân huyện ở Hà Nội  (hồi đó Hà Nội bé, chỉ có 4 quận nội thành và hai huyện) đều có lớp chuyên Toán. Các lớp này hàng năm tổ chức thi tuyển, loại ra vài người, lấy vào vài người mới. Sở giáo dục ra một quyết định thiên tài là các kỳ thi tuyển này phải được tổ chức vào cuối hè, nên từ đầu tháng 6 đến giữa thang 8, tổng cộng chừng 75 ngày,  các phụ huynh ngày ngày nhắc nhở 3 lần “con phải lo thi xong đã, rồi chơi gì hãy chơi”. Thi xong là chừng 20 tháng 8, không biết chơi gì bây giờ ?  Nên các học sinh chuyên toán khi lớn lên, yêu quí kính trọng thầy cô giáo thì có, nhưng  tình cảm với sở thì  hình như không được mặn mà.

Đấy là chuyện cấp 2, thi vào cấp 3 gay cấn hơn, vì 6 lớp chuyên đó, và các bạn lớp ngoài, cùng hợp lại thi chỉ để lấy một lớp vào Chu Văn An thôi. Đành rằng có một số bạn vô cùng xuất sắc đã được chọn trước vào các lớp chuyên hạt giống ở Đaị học tổng hợp và sư phạm, nhưng còn lại vẫn là 10 lấy 1. Đó là kỳ thi gay cấn nhất trong cuộc đời đi học của tôi.

Đầu vào khó khăn như vậy, nhưng như được đền bù lại, những năm học ở Chu Văn An cũng là những năm đẹp nhất. Trường hồi đó vẫn được quét vôi vàng như hiện nay, lớp học rộng và cao, trong sân cây cổ thụ xếp hàng. Hồ Tây đẹp một cách hoang sơ và thơ mộng. (Hồi đó hồ còn chưa kè và khái niệm “đất vàng” cũng chưa xuất hiện.) Những hôm trời se lạnh, sương mù bay toả che kín mặt hồ, không thấy đâu là bờ. Gió khẽ luồn qua cửa sổ, thổi nhẹ lên mái tóc bạn gái ngồi đằng trước . Lời giảng của cô giáo cũng như nương hơi gió, bay đi….

Chúng tôi may mắn được theo học những thầy cô gáio dạy giỏi lại quí học trò. Thầy chủ nhiệm Vũ Xuân Mai, cô Đỗ Hồng Anh, thầy Đỗ Lệnh Điện, cô Nguyễn Ngân Nhạn… Ai cũng để lại một dấu ấn riêng. Thầy Mai hiền lành, ít nói. Thầy tận tuỵ nhưng thỉnh thoảng cũng phải nổi cáu trước bọn học trò tinh quái. Cô Hồng Anh sắc sảo với nhiều kiến thức mới lạ. Thầy Điện trẻ trung, giảng thật có duyên, đẹp trai lại đá cầu rất khéo.

Một lần cả lớp đi chùa Hương (năm lớp 11), ngủ lại một đêm. Mấy đứa con trai mới lớn chúng tôi nằm tán chuyện huyên thuyên suốt đêm, quên cả thầy chủ nhiệm đang nằm gần đó. Đi chơi vể, họp phụ huynh, thầy than thở “Không ngờ các em ấy lại trưởng thành  đến thế !” Phụ huynh nghe xong, tím tái cả người lại, vì trưởng thành kiểu đấy rất dễ xơi hạnh kiểm khá, khó đi học nước ngoài.  Cuối cùng thầy cũng cho qua, nhưng thật thà thì những chuyện nói với nhau đêm hôm ấy mà bây giờ kể cho con  đang học cấp 2 thì nó sẽ tròn xoe mắt mà bảo bố mẹ xuống cấp 1 mà học.

Hội con gái lớp tôi thân nhất với cô Nhạn dậy Văn. Tổng kết truyện Kiều của cô là “Đàn ông là vô tích sự !”  Đến nay, đó đã là chân lý rạng ngời, nhưng  với tụi tôi lúc đó, ai cũng thấy bàng hoàng mới mẻ. Cô có môn tử vi bí hiểm, bói lấy chồng cực linh nghiệm, nên học trò nữ cứ đến thăm cô luôn luôn.

Trong các hoạt động của trường Chu Văn An, ấn tượng nhất là giải bóng đá. Hồi đó, Chu Văn An là trường duy nhất ở thủ đô có sân bóng đá rộng (11 người) và có khung gôn nghiêm chỉnh. Mặc dầu mặt sân nhiều chỗ còn lổn nhổn gạch đá, và phần lớn chúng tôi chạy chân đất, so với các nơi khác thì đã là thiên đường rồi. Giải bóng đá hàng năm do thầy hiệu phó Nguyễn Kim Hoãn (sau là hiệu trưởng đầu tiên của Hà Nội-Amsterdam) tổ chức. Mỗi khối có 8 đội, đá loại trực tiếp. Lớp chuyên Toán, mặc dầu ít người hơn hẳn các lớp khác, nhưng thành tích đá bóng rất đáng nể, được coi là một đội khó nhằn. Năm lớp 11, đá với lớp A bên cạnh, phải thi penalty để phân thắng bại. Cầu thủ lớp mình rõ ràng đá vào góc, nhưng vì gôn không có lưới, nên đội bạn cãi là ra ngoài, hai đội kiện nhau lên đến ban giám hiệu, làm các thầy chủ nhiệm phải dàn xếp để đá lại. Rốt cuộc thì vẫn thua. Trò chơi ưa thích trong những giờ may mắn hiếm hoi được nghỉ tiết là kê hết bàn ghế sang một bên, đuổi hết bạn gái ra khỏi lớp, và đá bóng vào ngừoi nhau. Trò thứ hai là kê bóng lên cửa ra vào một cách rất khéo léo, để khi bạn nào mở cửa vào lớp là bóng phải rơi chính xác vào đầu. Cho đến một ngày các chàng trai  quên mất là cả lớp đã vào lớp hết ở ngoải không còn ai nữa và người sắp đến mở cửa không phải ai khác ngoài thầy chủ nhiệm.  Bóng hồi đó là bóng cao su, đá chừng vài tuần nó méo và bay theo những quĩ đạo không ai đoán trước được.  Về sau chúng tôi gặp lại nhau, vẫn chia ra đôi ra đá bóng rồi đi bia hơi. Suốt hơn 20 năm liền như thế. Rồi cho đến gần đây thì chỉ còn bia hơi thôi. Vài năm nữa,  khéo chỉ nói chuyện mua  thuốc bổ ở đâu tốt.

Những năm chúng tôi đi học là giai đoạn cuối của thời bao cấp. Cơm ăn đôi khi phải độn.Nhiều hôm học thêm buổi chiều, trưa giở cặp lồng cơm ra ăn chung, phần lớn cũng chỉ là rau dưa. Quần áo có gì mặc nấy, từ bảo hộ lao động sắn vài gấu  đến sơ mi ngắn cũn cỡn. Nhưng sao đến lớp lại vui, có cái cảm giác mong đi học, để được gặp bạn bè.

Bây giờ chúng tôi sống rải rác trên toàn thế giới, từ Việt  Nam, qua Anh, Đức, rồi Mỹ, Balan…Ở đâu cuộc sống cũng hối hả, với bao lo toan dự liệu. Nhưng đôi khi, sau một ngày căng thẳng, ngồi nhớ lại mái trường xưa và quãng thời gian thơ dại ấy, hình dung ra bóng dáng thầy cô bạn bè, mà lòng mình như tĩnh lại.

Mấy chục năm rồi, ngôi trường cũng có nhiều thay đổi. Mỗi khi về nước, dạo phía ngoải trường lặng, ngó vào trong sân, hướng về căn lớp cũ thấy bời bời trong tâm trí. Nhiều thầy cô đã mất. Cái thời hồn nhiên trong trẻo xưa như với vừa đâu đó. Mình đang trẻ lại, hay mình cảm thấy dấu ấn của thời gian đã trôi đi ? Ba mươi người rẽ sang ba mươi ngả, ai cũng đã trưởng thành, theo cách của riêng mình.

Hình như tiếng trống. Tiếng trống thực của hôm nay hay tiếng trống trong tâm trí ? Các em trong sân chơi, tôi ở bên ngoài cánh cổng. Con đường Thuỵ Khuê quen thuộc. Đi nữa là lên Bưởi, sang Nội Bài, là những chuyến bay và một quê hương thứ hai xa thăm thẳm. Một ngày nào đó các em sẽ đứng như tôi đây, ngó vào trường với bao hoài niệm, yêu thương. Khoảng cách giữa chúng ta chỉ là một cánh cổng trường. Nhưng vượt qua cánh cổng này, vào trong lớp cũ, ngồi trên chỗ ngãy xưa, tôi vẫn không thể hoà cùng các bạn. Còn khoảng cách của 30 nữa chứ. Có ông nhà văn người Pháp có sáng kiến “Đi tìm thời gian đã mất”.  Thời gian của chúng ta không mất, nó hoá thành trí tuệ, thành tâm hồn chúng ta. Nó không mất nên chẳng cần tìm, và dù có tìm cũng không thấy được. Đường tiến thân có nhiều, mà tuổi thơ chỉ một. Cái con đường một chiều, đi không quay lại. Các bạn ơi, hãy trân trọng. Trân trọng ngay khi ta còn ở trong tuổi ấy.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhật ký Yale: Hội thảo biển Đông

Cuối tuần qua tại Yale diễn ra một hội thảo về tình hình biển Đông, do MacMillan center (Yale) và IVCE (Ínstitute for Vietnamese culture and education), một tổ chức độc lập, tài trợ (ban tổ chức  gồm Trần Đức Anh Sơn, Quang Phu Van,  Erik Harms và Michael Dove).

Hội thảo có nhiều học giả quốc tế tham gia. Tôi xin tóm tắt một vài ý chính đáng chú ý từ các bài phát biểu của một số chuyên gia không phải gốc Việt hoặc gốc Hoa.  Các đoạn tiếng Anh là trích nguyên văn từ bài tóm tắt của diễn giả.  Hy vọng trường sẽ upload video links trong thời gian gần đây.

Bill Hayton (Ásia Program, Chatham house, UK) phát  biểu về nguồn gốc bản đồ biển của Trung quốc, theo ông bản đồ này mới có từ năm 1933:

China’s historic claim to the South China Sea only emerged after 1933 as response to the annexation by France of several of the Spratly Islands.

The French annexation prompted an angry, though contradictory, responds among Chinese state officials, journalists and educationalists. This coincide with the first formal effort by the Republic of China to define the country’s territory through its “Land and Water Maps Inspection Committee”. This effort was not a process of documenting a pre-existing and self-evident claim, but of imagining, constructing and asserting it through the mobilization of archive documents.

 

Carlyle Thayer (Univ. New South Wales, Australia) phát biểu về chiến lựợc của Trung quốc với các đảo nhân tạo.

Analysts have identified four main drivers behind  China’s policy of constructing artificial islands in the South China Sea: nationalism, fisheries, hydrocarbons and geo-strategic imperatives. The geo-strategic imperatives are the most important.

China’s artificial islands in the Spratly archipelago will serve as forward operating bases for Chinese fisheries and hydrocarbon industries. More importantly, the infrastructure on these artificial islands will support a growing military presence in the future. China is engaging in “new colonialism” by constructing upwards from submerged reefs in order to assert control of the adjacent waters and recourses.

The present US. Fredom of Navigation Operational Patrols are unlikely to dissuade China from exerting control over the South China Sea. In summary, China is slowly and deliberately excising the maritime heart out of Southeast Asia and by gradually militarizing its artificial islands it will later the regional naval balance of powers in coming decades.

 

Daniel Schaeffer (Ásia think-tank 21, France) nói về mục đích chính của Trung quốc tại biển Đông. Các ý kiến của ông có chỗ tương đồng với ông Thayer, nhưng có lẽ vì  Schaeffer  là một vị tướng, nên nhìn nhận vấn đề qua đơn vị tầu ngầm, như bạn sẽ thấy ở dưới.

Contrary to what a lot of different observers area spreading over the world, the main reasons of Chinese claim are not based on the existence of hydrocarbon in the subsoil, neither on that of the sea living resources, nor the safety and security of the international navigation.  These are only stakes.

The main reason is strategic. Because the utmost problem for China, which feels not only contained, but threatened by the US, is to be able to have its noisy Jin-class SSBNs securely exit their Sanya homeport with two operational possibilities: diving in the depths of the South China Sea, or escape this semi-enclosed sea through the Bashi strait in order to enter the Pacific ocean, and come as close as possible to the western US continent and put the biggest towns at firing range of the Julang 2 nuclear missiles. This is the only valid reason for which China wants to empty the South China Sea of any foreign navy: escape the foreign tracking of its boats.

 

Aileen Baviera (Univ. of the Philippines) phát biểu về quan hệ giữa Mỹ, Trung Quốc và Philippines, và những mối quan ngại của Phillipines.

Currently, China’s neighborhood policy, particularly with reference to the South China Sea, is full of contradiction. On the other hand, the Philippines is caught in the bind on whether to be guided by principles or pragmatism in its approach towards China’s more muscular behavior. It has to rely on a military alliance with the US, whose credibility is doubted in key policy circles. The Philippines has staked its claim to marine resources at apparent great political cost, knowing full well that the solutions may be beyond reach without making even more compromises.

For the Philippines, the brewing rivalry between major powers threatens to overlay its other goals and concerns, raising questions about whether its core interests will be ultimately be served.

 

Harry Kazianis và Patrick Cronin (Potomac Foundation, US) có ý kiến về đường lối của Mỹ trong khu vực. Ngôn ngữ của họ khá dứt khoát. Cronin có nhắc tới việc Mỹ có thể bỏ cấm vận vũ khí hoàn toàn với Việt Nam trong thời gian tới.

Bài của Kazinanis mang tựa đề  “Shamefare: A new US strategy for the South China Sea”

Washington, along with its allies and partners in the South China Sea region–and indeed, all of the Indo-Pacific area–face a rising China determined to change to status quo in its favor. America and like-minded nations throughout the region must devise a non-kinetic, asymmetric approach to deter Chinese actions and ensure that if Bejing continues on with aggressively altering the status quo it will pay a very high costs for its actions.

 

James Kraska (US Naval War college) phát biểu về việc Trung quốc dùng các đội dân quân trên biển một cách có tổ chức và sự vi phạm luật hàng hải của họ. Bài phát biểu có nhiều hình ảnh minh hoạ, trong đó có một đoạn video một tàu lớn của Trung quốc đâm chìm một tàu đánh cá Việt Nam, hoặc các tàu Trung quốc xích chặt vào nhau để chống lại sự can thiệp của hải quân Nhật bản.

China operates a massive network of fishing vessels and commercial trawlers that operate in conjunction with its law enforcement to change the status quo in the South China Sea. This asymmetric approach avoids overt militarization of the disputes, while rendering a decisive operational advantage to China. China’s maritime militia conduct operations that are inconsistent with the peacetime international law of the sea.

The militia are also posed to see as an iregular naval force multiplier during armed conflict, which circumvents the law of naval warfare and erases the distinction between warships and civilian vessels. China’s maritime militia poses political, operation and legal challenges to its neighbors.

Kraska cũng nhắc tới chuyện biển Đông là khu vực cáp truyền tin hay bị hỏng nhất, và liên hệ với sự có mặt của các tàu dân quân Trung Quốc. Ông nói đó  chỉ là một ý tưởng,  không có bằng chứng nào cụ thể.

 

 

Bạn có thể đọc thêm tường thuật của báo Tuổi Trẻ ở hai link dưới đây. Ý kiến của Cronin được viết lại khá kỹ, ngoài ra có  nhiều thông tin khác về khía cạnh luật pháp.

http://tuoitre.vn/tin/the-gioi/20160508/xung-dot-bien-dong-tham-vong-cua-trung-quoc-qua-ro/1097278.html

http://tuoitre.vn/tin/the-gioi/20160509/bien-dong-tuan-thu-luat-phap-quoc-te-la-dung-dan-nhat/1097527.html

 

 

 

Bạn bạn bạn nhiều hơn bạn bạn

Thứ nhất là đố bác nào đối được câu này !

Thứ hai, chẳng những nó có nghĩa tiếng Việt đàng hoàng, mà ý nghĩa toán học cũng rất thú vị.

Trường hợp này hay xảy ra trong thực tế: Mình nghĩ tới một anh/chị bạn nào, thì y như rằng cu đó có nhiều bạn hơn mình. Ức chế đếch chịu được ! GATO.

Thật ra cái này chẳng phải ông trời trêu tức chúng ta, mà là một hiện tượng rất logic.

Trước hết, ta có thể giải thích theo kiểu chị Thanh Tâm. Bạn nghĩ tới ai, hẳn phải có lý do. Tức là tay đó có gì tương đối nối trội, chẳng hạn má lúm đồng tiền nhé, hay xe đạp Peugeot (cái này cho thấy người viết thuộc thế hệ 6X-7X; chuẩn giờ nó khác). Vậy thì y thị hot cũng là đương nhiên.
Tiếp theo, như ta đã biết, khi  không làm được gì khác hơn  thì làm toán. Ta có thể mô hình hoá hiên tượng như sau. Có một tập hơp N người, đánh số 1,2,..,N, và giả sử người thứ k có b(k) người bạn trong đám. Ta chọn ra một người một cách ngẫu nhiên, gọi là  A. Trong đám bạn của  A, chọn ra một người ngẫu nhiên, B. Số bạn của B sẽ thường nhiều hơn số bạn của A.

Ai chưa biết xác suất, có thể tham khảo ví dụ sau. Chị W, hoa hậu thôn Trung, có 9 chàng trai đến tán. 9 chàng này làm mặt lạnh không thèm biết nhau. Ở đây N=10, b(1)=9 và b(2)=…= b(10) =1.
Nếu chọn ra ngẫu nhiên một người, với xác suất 90%, sẽ chọn ra một anh chàng. Anh này có nhõn một bạn (chị W) trong khi đó, bạn của anh, là chị W, có 9 người bạn.
Trong trường hợp tổng quát, chỉ dùng kiến thức cấp 3  có thể  chứng minh mệnh đề sau:
(1) Kỳ vọng của số bạn của A là K(A) = [b(1) +…+ b(N)] / N. Cái này hiển nhiên.

(2) Hơi khó hơn một tý: Kỳ vọng của số bạn của B là
K(B)= [ b(1) ^2 + …+ b (N) ^2 ]/ [b(1) + …+ b(N)].

Bất đẳng thức Cauchy cho thấy K(B) lớn hơn hoặc bằng K(A). Bài học rút ra là không nên GATO.
(Ai thích có thể wiki Friendship paradox.)

Nhật ký Yale: Ngày nịnh học sinh

Đàn ông ở đâu cũng khổ. Đi làm  nịnh sếp, về nhà nịnh bố mẹ.

Lớn lên lấy vợ, thì về nhà nịnh thêm vợ, và các ông/bà  con.

Lửa thử vàng, các giáo sư được thêm hân hạnh, là đến trường còn phải nịnh học sinh nữa.

Cũng may, cái sự nịnh học sinh, chỉ rơi vào một ngày trong năm.

Cái sự nịnh học sinh này, thật ra chỉ hay có ở các trường lớn. Các trường này có ganh đua được với nhau hay không, phụ thuộc vào chất lượng giáo viên đã đành, nhưng chất lượng học sinh cũng rất quan trọng.

Khoa toán ở Yale một năm tuyển vào chỉ chừng 5-7 sinh viên mới (sinh viên sau ĐH, làm bằng tiến sĩ), nhưng khi gửi offer đi, thường phải gứi một lúc cỡ độ 20 cái. Lý do dễ hiểu, các sinh viên lọt vào tầm ngắm hay có tới 3,4 offer khác từ các trường mạnh tương đương, nên cứ gửi 3 ,4 thư thường chỉ có một người  đến thôi.

Để quyến rũ được các cô cậu sinh viên sáng giá (ít nhất là trên giấy) này, các trường cạnh tranh nhau bằng mọi hình thức. Một trong những cách thông dụng nhất là mời các sinh viên được tuyển đến thăm trường một vài ngày.  Việc này dĩ nhiên khoa phải chịu hết phí tổn, kể cả vé báy may cho sinh viên đến từ nước ngoài.

Trong một hai ngày này, cả khoa tất bật như nhà có con gái lớn tuổi lại không quá xinh sắp tới ngày  ăn hỏi.  Các bà thư ký  đến sớm về muộn, lo chuyện kê bàn kê ghế, đặt khách sạn, thức ăn. Thường có một buổi buffet  để các sinh viên tương lai gặp gỡ các sinh viên hiện tại, đặng cập nhật tình hình thời sự của khoa.  Trong hai ngày đó, các giáo sư nhất loạt phải mặc quần áo đẹp (cụ thể là  hạn chế quần bò  đã sờn gấu và giầy  đi ba năm không thay). Áo phải dắt trong quần, đầu phải chải  và miệng  luôn nở nụ cười thân thiện, ra dáng hoạt bát vui tính, mềm mại dễ thương như các cô dâu sắp về nhà chồng.

Điểm nhấn của chương trình là màn trình diễn của các giáo sư. Mỗi năm khoa phân ra chừng 3,4 người, mỗi anh phải biểu diễn một bài gì đó cho đó cho sinh viên thấy tuyệt kỹ của bản môn. Bài giảng không được dài, chừng 20 phút (không các sinh viên tương lai sẽ mệt, ngủ mất), không được khó (để các bạn ấy có thể hiểu được) mà lại phải vừa hay vừa sâu. Xem ra còn vất vả hơn thổi cơm thi vừa bắt ếch  vừa dỗ con.

Các sinh viên nào thực sự quan tâm sẽ đi thêm bước nữa, là đến nói chuyện trực tiếp với một vài giáo sư  mà họ thích. Vì kỹ năng giao tiếp của phần lớn các nhà khoa học và các nhà khoa học tương lai đều ở mức thượng thừa,  một  cuộc nói chuyện tiêu biểu diễn ra như sau:

-Chào thầy !

-Chào em, mời ngồi.

Ngồi. Hai bên im lăng nhìn nhau trong  năm phút. Sau năm phút có hai tình huống xảy ra.

Tình huống một:

-Chào thầy !

-Chào em, chúc một chuyến bay tốt lành.

Tình huống hai, chỉ xảy ra khi giáo sư mau mắn hơn mức bình thường:

-Em thích làm nghiên cứu về lĩnh vực nào ?

-XYZ .

Thầy trò lại im lặng nhìn nhau,  phảng phất như  Chân Tử Đan và Lý Liên Kiệt trong phim Hero. Sau năm phút có hai tình huống xảy ra.

Tình huống một:

-Chào thầy !

-Chào em, chúc một chuyến bay tốt lành.

Tình huống hai, chỉ xảy ra khi học trò thực sự biết XYZ là gì, là họ sẽ nói chuyện chừng 15′ về  nó, và chia tay một cách lịch sự.

Đoạn kết: Không khí của ngày nịnh học sinh năm nay được cải thiện đáng kể, vì khoa đã mua một bàn bóng tay và tổ chức giải giao lưu giữa các sinh viên và giảng viên, và ta được thấy những nụ cười thật sự. Ý tưởng  bàn bóng tay kiệt xuất này đến từ một giáo sư mà danh tính, vì khiêm tốn, chúng tôi sẽ không tiết lộ. 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Người của một thời

Tháng 2 này là kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Xuân Diệu.

Nhà thơ Xuân Diệu, phần lớn người Việt Nam đều biết. Bọn chúng tôi, thưở  học trò mới lớn, ít nhiều đều chép vài bài của ông. Đặc sản Xuân Diệu là thơ tình, chủ yếu viết trước 1945. Nhưng đến thời tôi,  đem ra tán gái thế nào lại không hiệu quả. Có thể sở thích của nữ sinh dưới mái trường xã hội chủ nghĩa  nó khác, không chấp nhận các tư tưởng uỷ mị tiểu tư sản, hay là giọng  mình đọc lên nó không được du dương.  Hoặc  đơn giản là không có tiền mua ô mai ? Chịu ! Thế nào  nhớ nhất lại là bài Mũi Cà Mau (Tổ quốc ta như một con tàu. Mũi tàu ta đó mũi Cà Mau) vì là bài giảng văn trong sách giáo khoa.

Lúc tôi còn bé, ông hay qua 22 Trương Hán Siêu nói chuyện thơ văn với bố. Thuở đó, xe đạp là một gia tài. Ông có một cái xe khung bóng loáng, chắc là đồ ngoại. Nhà Trương Hán Siêu là kiểu nhà ống, ngày xưa một chủ ở, sau đó phân ra cho mấy gia đình,  mỗi gia đình một phòng. Hành lang rất hẹp nên dắt xe vào khó, ông phải để ở ngoài vỉa hè. Tôi được phân công nhiệm vụ trông xe. Mặc dầu đã khoá một cái khóa to kệch, nhưng cứ trông cho chắc. Vả lại được trông cái xe đẹp, tư thế cũng lên vài phần. Trẻ con hàng phố đi qua, mỗi đứa ngắm nghía bình luận vài câu, có anh lại đòi trèo lên ngồi thử một cái.

XD-VQP83

Xuân Diệu- Vũ Quần Phương (1983)

 

Nhà Trương Hán Siêu, có lẽ vì gần trụ sở báo Văn Nghệ và hội nhà văn, nên các cụ tiền chiến rẽ qua chơi nhiều. Bố bảo không được nói leo các cụ , nhưng ngồi nghe lỏm chuyện nào cũng hay. Nhưng Xuân Diệu vẫn hay nhất, vì chẳng những ông có tài diễn thuyết, mà chỉ có ông hay cho Văn kẹo. Những năm 70, kẹo vô cùng quí hiếm. Mà kẹo của ông lúc nào cũng độc đáo. Có một lần sinh nhật,  chắc độ 6,7 tuổi gì đó, ông cho mấy cái sô cô la. Đây là sô cô la của Pháp,  loại làm giống đồng tiền vàng, có chữ in nổi trên vỏ.  Nâng niu cất lên đặt xuống không dám ăn, để bày cho đẹp, rồi đem ra ngoài phố khoe với bạn, uy tín lên cao phải được mấy ngày.  Đến lúc mở ra ăn  thì nó bị chảy gần hết.

Khi bố tôi ra đời, Xuân Diệu  đã là lãnh tụ của thi đàn Việt Nam. Chẳng những ông có văn tài, mà kiến thức kim cổ cũng rất uyên bác.  Nhưng khi  nói chuyện với các nhà văn trẻ, thái độ ông rất trân trọng,   xưng hô đều dùng tên riêng. Cái kiểu anh anh chú chú nửa  trịnh thuợng nửa bỗ bã đang thịnh hành từ công sở đến quán bia hiện nay hồi đó tôi chưa từng nghe thấy. Xuân Diệu sống một mình, trong một căn phòng của một biệt thự trên phố Điện Biên Phủ. Ông tự nấu ăn, nồi niêu xoong chảo cái nào cũng be bé. Tự chăm sóc bản thân. Có lần ông  khuyên ông Phương đi thực tế ở địa phương này thì nên mua nhiều cà chua, vì ăn nó bổ. Mà muốn mua được nhiều, thi phải mua làm hai loại, cà chua chín rồi về ăn ngay, và loại xanh xanh để thêm được vài tuần.

Mùng một Tết Ất Sửu (1985), ông ăn Tết tại nhà tôi,  lúc đó đã chuyển vào khu tập thể Bách Khoa. Những năm đó không có khái niêm liên lạc bằng điện thoại. Sáng mùng một Tết, bố Phương lọc cọc đạp xe lên Điện Biên Phủ để chở ông xuống. Cùng lúc, thể nào ông lại nhờ được ông thông gia với nhà thơ Huy Cận đi xe máy chở lên. Hai ông đến thì chủ nhà không có nhà, lại kiêng cữ gì đó không dám vào xông đất, nhà thơ lớn cứ đợi co ro ở dưới gác. Chú tôi lại tức tốc đạp xe xuống Điện Biên Phủ để gọi ông anh về. Ông  mừng tuổi bố một mảnh vải để may áo,  bảo may sơ mi cộc tay thôi vì vải nó ngắn.  Đó là Tết cuối cùng của nhà thơ Xuân Diệu, ông mất cuối năm 85.

Thế hệ của Xuân Diệu ra đi,  qui củ hội nhà văn sau đó  cũng thay đổi dần, không còn như xưa nữa.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Làm dự án

Bài này là tiếp theo chuyện “Xuất bản”“Trích dẫn”, với mục đích giới thiệu công việc của các nhà khoa học. (Đang tạp chí Tia sáng số Tết con Khỉ 2016.)

NSF (National Science Foundation) là quỹ khoa học quốc gia của Mỹ. Nó được thành lập năm 1950, với mục đích là tài trợ các nhà khoa học tại Mỹ trong các nghiên cứu độc lập của họ. Hiện tại số tiền tài trợ hàng năm chừng 7 tỷ USD, trong đó hơn 80% là vào thẳng các dự án (grants) từ các trường đại học và viện nghiên cứu.

Đối với các giáo sư ở Mỹ, nộp dự án cho NSF (hay một số tố chức tương tự có qui mô nhỏ hơn) là việc  ích nước lợi nhà. Lợi nhà là một khi dự án  được chấp nhân tài trợ, nhà khoa học được thêm một hai tháng tiền lương, được tiền để tài trợ cho sinh viên, mua trang thiết bị và  đi  hội nghị. Hơn nữa, trường đại học được hưởng trực tiếp một khoản rất lớn từ tiền dự án của các giáo sư. Tuỳ từng ngành, số tiền này có thể lên đến 30% tới 50% (hay hơn nữa) giá trị của dự án.  Vì vây, các trường lớn có hẳn một đội nhân viên cứ đến mùa dự án là giục dã các giáo sư cho khỏi quên, và giúp họ nộp hồ sơ đúng thời hạn. Giáo sư có nhiều dự án  được tài trợ thường được trường đại học ưu ái. Ngoài danh tiếng và giá trị khoa học ra,  trong không ít trường hợp, số tiền trường thu  từ các dự án nhiều hơn lương của các giáo sư này rất nhiều. Bởi vậy, có nhiều dự án thành công là một yếu tố quyết định trong việc tuyển chọn hay thăng tiến ở các trường đại học. Nó cũng ảnh hưởng đến uy tín của nhà nghiên cứu trong con mắt đồng nghiệp.

Dự án quan trọng vậy, nên việc nộp và xét dự án khá kỳ công. Trong ngành toán,  cách đây chừng 15 năm, số người được duyệt chừng 1/3 số người nộp, hiện tại con số này chỉ còn 1/5,  tính cạnh tranh rất cao. Mỗi dự án thường có thời hạn ba năm, đôi khi trong một số trường hợp đặc biệt có thể dài hơn.

Phần nội dung của dự án có độ dài tối đa 15 trang, phần lớn người viết dùng hết giới hạn này, cộng thêm phần trích dẫn  từ 50 đến 150 bài báo. Nội dung phải đặt được các yêu cầu sau:

(0) Tóm tắt nội dung và thành tựu của dự án vừa hoàn thành (nếu có).

(1) Nêu các vấn đề sẽ được nghiên cứu một cách mạch lạc.

(2) Giải thích tại sao các vấn đề này lại hay và quan trọng.

(3) Các phuơng pháp và ý tưởng đã được dùng để tấn công vấn đề này hay các vấn đề tương tự. Mặt mạnh và hạn chế của các phương pháp này.

(4) Đề cập được một số phương pháp hay ý tưởng mới.

(5) Ứng dụng và đào tạo.

Một số khó khăn của  việc viết dự án:

(A) Chọn vấn đề. Nếu vần đề  tầm thường, không được nhiều người quan tâm, thường rất khó được chấp nhận. Vấn đề mà về cơ bản đã được giải quyết rồi, dự án chỉ làm thêm một số bước kỹ thuật thường cũng không được ủng hộ. Nhưng nếu vần đề nổi tiếng quá, rất dễ bị đặt câu hỏi “nhưng anh/chị ấy đã bao giờ giải quyết được các vấn đề lớn tương tự chưa ?”

(B) Cách diễn giải.  Dự án phải được viết  rất mạch lạc, dễ hiểu.  Mấu chốt ở đây là ban duyệt dự án sẽ gồm chừng 10-15 thành viên, và nếu may mắn chỉ có một hai người cùng chuyện ngành hẹp với bạn thôi. Nếu người đọc  không hiểu thì đó là lỗi của người viết. Bạn có thể vùng vằng “ngôn ngữ toán học  của tôi cao quá, uỷ ban không hiểu”, đó là việc của bạn, còn việc uỷ ban không duyệt thì đó là việc của họ.

(C) Hiệu quả trong ứng dụng và đào tạo. Ở các trường đại học, nghiên cứu đi liền với giảng dạy, nên dự án cần chỉ ra tác dụng của việc nghiên cứu trong lĩnh vực này. Điều này một phần nào bắt buộc các gíao sư mang những kiến thức mới nhất đến cho sinh viên.  Trong thời gian gần đây, hiệu quả ứng dụng của công trình, ngay cả trong những lĩnh vực được coi là lý thuyết như toán cũng rất  được coi trọng.

 

Viết một dự án kỹ  lưỡng rất tốn thời gian. Ngay cả những nhà nghiên cứu hạng nhất, khi viết dự án, cũng thường mất đến cả tháng. Tuy nhiên, một tháng đó cũng rất có lợi cho họ, ở chỗ họ có thời gian cân nhắc kỹ càng các đề tài, đề tài nào khả thi, đề tài nào có thể làm với ai, đề nào nào thích hợp với sinh viên nào. Vô hình chung, nó tạo  ra một kế hoạch  làm việc khá cụ thể cho tương lai.

Như đã nói ở trên, việc xét dự án thông qua các uỷ ban ngành (panel). Các uỷ ban ngành do NSF chọn ra, thường có từ 10-15 người và thay đổi hàng năm. Một ngành khoa học lớn (như Toán hay Vật Lý) có thể có tới cả chục uỷ ban ngành cho các hướng nghiên cứu khác nhau (chẳng hạn có các uỷ bang riêng biệt cho đại số, xác suất, hình học).  Uỷ ban thường họp vào cuối năm, là mùa bận rộn của NSF.  Các thành viên đến trụ sở NSF ở Arlington, một thị trấn ngoại vi thủ đô Washington, họp kín chừng 3 ngày liền. Để bảo đảm tính công bằng, NSF có những nguyên tắc   chặt chẽ, chẳng hạn khi thảo luận dự án của giáo sư A, tất cả những thành viên có  liên hệ với A (như người cùng trường, thầy giáo hay học sinh cũ, hay người cùng nghiên cứu trong vòng 4 năm) không được tham gia vào cuộc thảo luận và không được bỏ phiếu. (Đơn giản là họ bị mời ra ngoài hành lang.) Những nhà nghiên cứu trẻ, đang bắt đầu sự nghiệp khoa học, thường có một số ưu thế trong bước xét duyệt. Ngoải ra, còn có những loại dự án chỉ dành cho những người trẻ tuổi, đôi khi dưới dạng một giải thưởng (như NSF Career Arward).

Gần đây, chúng ta có quỹ Nafosted (National Foundation for Science and Technology), với mục đích tương đồng với NSF. Đây là một bước tiến rất quan trọng, đáng khích lệ,  trong việc đẩy mạnh phát triển nghiên cứu tại Việt Nam.   Dĩ nhiên, do chênh lệch giữa  hai nước, số tiền giành cho mỗi dự án ở Việt Nam (về giá trị tuyệt đối) không thể so với Mỹ. Nhưng nếu tính  tương đối (dựa theo thu nhập trung bình) thì sự trợ giúp của Nafosted rất có giá trị.

Về cơ bản, hai quỹ hoạt động khá giống nhau. Nhưng ở một số bước, có sự khác biệt.  Môt số lần tôi được mời phản biện cho các dự án Nafosted, thì thấy nội dung viết rất sơ sài. Các dự án đều  hết sức ngắn, từ 1 đến 2 trang,  đọc rất khó hiểu, hay đôi khi không có gì để hiểu hay thảo luận cả. Không biết tình hình được cải thiện chưa nhưng không thể biết những  dự án như vậy  sẽ được thông qua hay bác bỏ trên cơ sở gì.

Thành công của dự án, đôi khi được xét trên số bài đăng ở tạp chí ISI. Tiêu chí này hơi khiên cưỡng, vì nhiều tạp chí ISI giá trị khoa học rất kém. Vì vậy chỉ đếm số bài có thể dẫn đến việc phấn đấu đạt chuẩn một cách hình thức. Một bài báo nếu đã đăng trong vòng 3-5 năm mà không có ai sử dụng hay trích dẫn, thì dù đăng ở tạp chí nào, giá trị khoa học của nó cũng rất đáng hồ nghi.

Việc phải hoàn lại (một phần)  tiền trong trường hợp không thành công, có thể  làm người nghiên cứu, nhất là các nhà nghiên cứu trẻ chưa có kinh nghiệm, rất do dự khi nộp dự án, và vô tình tạo ra quyền lực cho những người nghiệm thu dự án. Thông qua dự án là chấp nhận đầu tư vào nhà khoa học, và đầu tư thì ở đâu cũng có thể có rủi to. Ở NSF, một dự án không thành công đơn giản sẽ làm cho các dự án tiếp theo rất khó được chấp thuận. Đó là một cái giá rất nặng buộc các nhà nghiên cứu phải toàn tâm toàn ý với dự án của mình.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giáo sư phiêu lưu ký: Cancun (2)

Ở Cancun, có nhiều du khách ở khách sạn loại trọn gói.

Khách sạn trọn gói bao gồm cả chỗ ở, ăn, uống, giải trí. Đại loại là bạn trả một khoản tiền, thì đến nơi có phòng ở, trong khách sạn phục vụ đánh chén cả ngày, từ 7 giờ sáng đến 11 giờ đêm.  Ban ngày thì có hoạt náo viên tổ chức trò chơi, thi đấu thể thao, tối đến thì có show ca hát, ảo thuật. Nó thích hợp với các gia đình bố mẹ đi với con cái, nhất là cái khoảng ăn uống.

Đã đến lúc ta phải cay đắng mà tự nhủ thầm là mình đã vào cái  tuổi nửa già nửa trẻ. Già là vì khi  bạn  ra ngồi bể bơi, nghe các nam thanh nữ tú tán chuyện, được dăm mười phút bạn hoài nghi “sao chúng nó lại có thể nói những cái chuyện tầm phào đến như thế nhỉ ?” Bạn đã quên khuấy hai việc. Thứ nhất là mục tiêu cuối cùng của những câu chuyện bể bơi này không phải để viết lại lịch sử Trung Đông hay tìm ra hướng đi mới cho  kinh tế Nhật Bản. Thứ hai, cách đây 20-25 năm, những chuyện bạn đã nói cũng đáng chán đến phát ngượng lên.  Giá thử có ai ghi âm lại, thì chắc chắn chỉ còn một cách là  đổ cho âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch.  Còn trẻ là vì bạn  luôn luôn được nhắc nhở rằng là vẫn còn rất nhiều năm để trả học phí cho các ông/bà con, để chúng đi học, và  để trong kỳ nghỉ đông chúng có thể  ra bể bơi tán phét những câu chuyện dở òm mà bạn đang phải nghe.

Ở cái độ tuổi dở hơi này, nhu cầu ăn uống tự nhiên trở nên tế nhị. Nửa già bảo bạn là không thể ăn nhiều ăn tạp như ngày xưa được nữa, còn nửa còn trẻ kia vớt vát thúc đẩy bạn hãy thử những món ăn mới lạ. Giải pháp, như ta đã biết, là  cần đến những nhà hàng đặc sản, ăn ít nhưng mà tinh, mà đặc biệt, Tây gọi là  “fine dining”.

Một buổi tối fine dining thường diễn ra như sau. Bạn  ăn mặc đẹp, đến một nhà hàng không nhỏ quá mà cũng không lớn quá. Nến lung linh, khăn bàn trắng muốt cùng một số lượng thìa dĩa đủ dùng cho một gia đình bốn người. Bạn ngồi xuống, hầu bàn cung kính đem thực đơn dầy cộp ra, món nào món ấy toàn những tên dài ngoằng mà nửa số từ bạn chưa nhìn thấy bao giờ. Với một cử chỉ sành điệu, bạn ra dáng suy tư rồi chỉ vào món có tên dài nhất, mà nếu để hiểu một cách đầy đủ  các thành phần trong nó, khách cần biết ít nhất hai ngôn ngữ có gốc latin, và sở hữu một bằng master về thực động vật học. Thật tình là trong cái đống từ loằng ngoằng đó, bạn chỉ hiểu có “organic” thôi. Organic, thì hẳn phải ngon và tốt. Vả lại, căn cứ theo giá tiền, nếu món này không ngon và tốt, thì chủ quán rất xứng đáng bị treo cổ.

Hầu bàn nghiêng mình, nhìn bạn lần nữa, như có ý thán phục vị khách lịch lãm, rồi đi thằng vào trong. Bạn đắm mình trong tiêng nhạc êm dịu và  vị thơm nhè nhẹ toả ra từ bếp. Chừng nửa tiếng sau, hầu bàn mặt mày hoan hỉ, trịnh trọng đặt xuống bàn một chiếc đĩa sứ, hoa văn thanh nhã. Một bên nửa đĩa có mấy cọng mỳ vàng óng, cùng một mớ rau củ rườm rà, mà như nói ở trên, nếu không có kiến thức sau đại học  về thực động vật học, thì tốt nhât không nên hỏi chúng là gì. Nửa bên kia đĩa, có hai loại nước sốt, một xanh lơ, một đỏ mận. Ở giữa nước sôt, mỗi bên một màu, là hai chú ốc sên to kếch, trong đó có một chú trông còn  đang ngọ nguậy, như cố níu kéo lấy những milimet cuối cùng của cuộc sống. Nếu không có con mắt nghiêm nghị của anh hầu bàn như đang nhìn theo bạn, thì bạn đã đặt béng con ốc sên tội nghiệp đó xuống sàn cho nó muốn bò đi đâu thì bò….

Vì ăn uống oái oăm như vậy, nên ngồi chung với trẻ con là rất khó, vì chúng không thích ốc sên. Chúng thích những món mà chỉ số calo làm cho bạn phát ngất. Bởi vậy, khách sạn trọn gói là một giải pháp khá trọn vẹn cho tất cả các bên, ai thích ăn gì thì ăn, tự đi mà lấy. Khách sạn lúc nào cũng mở một lúc 3 phòng ăn, cho đủ loại yêu cầu. Tuti chỉ ăn pizza cho nhanh rồi chạy biến ra biển, sau một tuần, cu cậu  đen ngòm và gầy đi trông thấy. Được cái đi đâu cũng có dăm ba đàn em, chắc là gốc Tàu, đi theo điếu đóm, chắc hẳn do cu cậu cao nhất hội.  Biển mùa này vẫn ấm, nhưng sóng rất mạnh, các chị béo, hiển nhiên đến từ nước Mỹ, cũng bị đánh sấp ngửa.

 

Trong khách sạn đáng kính phục nhất là đội ngũ hoạt náo viên. Toàn các thanh niên cỡ 20-30 tuổi, tiếng Anh rất trôi trảy.  8 giờ sáng đã thấy họ hướng dẫn tập thể dục và yoga cho các bà các cô dậy sớm. Từ 11 giờ trưa đến 3 giờ chiều là đủ các trò chơi ở bể bơi. Sau 4 giờ là thể thao. Đến tối, hôm nào không có các đội ca nhạc chuyên nghiệp đến biểu diễn, thì họ tự nghĩ ra vài tiết mục, tuy cây nhà lá vườn nhưng cũng xôm trò. 10 giờ đêm còn có một đội dẫn những ai thích disco đi nhảy trong thành phố. Và suốt mười mấy tiếng đồng hồ đó, lúc nào trên miệng họ cũng nở một nụ cười.

 

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 461 other followers