Skip to content

Nhật ký Yale: Một góc bình yên

Xuân về. Trời chả nóng chả lạnh, mưa lất phất ngoài phố. Các cành cây gầy guộc ủ ê cả mấy tháng lạnh giá bắt đầu nhú những chồi lá xanh xanh.  Các giáo sư áo bông lụ khụ ngồi trong phòng đọc sách hoặc chơi trò chơi điện tử suốt mùa đông như cũng nhú lên, chen nhau ra ngoài phố.

Yale có nhiều chỗ để lang thang.  Dọc trong thành phố,  các ngôi nhà của trường thường kiến trúc kiểu cổ, theo mẫu Cambride và Oxford.  Thư viện chính và nhà thể thao troong như hai tu viện lớn, cổng vòm bề thế.  Thế nhưng Art gallery của trường lại làm theo lối mới, tức là một toà nhà hình vuông, bề ngoài rất đơn giản. Nếu nhìn qua, có khi nghĩ nó được xây ở đất nước của Lênin trong những năm 70.  Được cái, khi bước vào trong thì không khí rất ấm cúng. Cầu thang cổ kính hình xoắn ốc với ô cửa sổ một bên, mặc váy dạ hội chụp ảnh là rất hợp.

Tầng một của gallery dành cho văn hoá cổ đại (Hy lap, La mã, Babylon vv).  Trong con mắt của một người không chuyên thì hiện vật trông giống tất cả những bảo tàng khác, quí ở chỗ nó cổ, còn thì bất kể tượng hay bát hay chum vò, cái nào cũng sứt mẻ lung tung, hiển nhiên đã được dùng qua rất nhiều cuộc hôn nhân. Thú vị nhất  có lẽ là một tấm bia nằm trên nền nhà, chỉ ra là vợ chồng cụ Trumbull đã được chôn ngay dưới chỗ này. Cụ (ông) là một hoạ sĩ rất quan trọng thời chiến tranh giành độc lâp của Mỹ. Lúc mất  chắc cụ cũng không nghĩ tới việc gallery ngày ngày sẽ có hàng trăm sinh viên trẻ đẹp đi lại tưng bừng. Chỉ có phụ nữ nhìn xa trông rộng, nên cụ bà cương quyết phải nằm cạnh cụ ông  cho nó lành.

Một căn phòng ở tầng một thường được sử dụng để triển lãm nhưng các phẩm mới, mang từ nơi khác đến. Cách đây chừng một năm, tác phẩm hot đó là bộ tranh “mười công thức đẹp nhất thế giới”.  Tác giả cặm cụi tham vấn một số nhà toán học cây đa cây đề, đặng nhờ họ viết ra mười công thức được coi là quan trọng nhất quả đất. Công thức sau đó được phóng to ra,  dấu tích phân bằng cỡ cái móc câu, chụp ảnh đen trắng rất nét treo lên  tường.  Tất cả khoa toán, dĩ nhiên, không ai đi xem. Khách thăm quan chính là học sinh tiểu học,  được cô giáo dẫn đi theo giờ ngoại khoá bắt buộc. Bọn nhóc con mắt chữ o mồm chữ a, vừa nghếch mắt lên xem móc câu vừa  ngoáy mũi một cách cẩu thả. Cứ nhìn dáng điệu  mà coi thì xem ra  sự quan tâm của chúng với toán học nói chung và cảm tưởng của cô giáo về các nhà toán học nói riêng không được mấy phần lãng mạn.

Tầng 3 dành cho các tác phẩm “hiện đại” (modern art).  Các tác phẩm này tại sao lại đẹp, thì thường tối đa  chỉ có tác giả giải thích được.  Nhưng đối với các giáo sư tha thẩn là cà ra đây, các trưng bày này có tác dụng không ngờ. Vốn là một khi bạn suy nghĩ một cái gì đó khá lâu và vẫn tắc tị chả có ý tưởng gì hay, thì một điều an ủi rất lớn là được nhận ra rằng có rất nhiều người còn trong tình trạng tệ hơn mình.

Có lẽ các tác phẩm thú vị nhất  nằm ở tầng hai, nơi trưng bày hội hoạ thế kỷ 17 tới 20.  Các căn phòng tranh đều nhỏ, tĩnh mịch một hai khách xem, không có cảm giác ngợp và ồn ào như các bảo tàng lớn.  Có ba tác phẩm tôi hay xem, nằm phía tay trái khi lên cầu thang.

Bức tranh đầu của Scheffer (một hoạ sĩ người Pháp trong thế kỷ 19, bản thân cũng đã từng là kỵ binh) vẽ cuộc rút lui thê thảm của đoàn quân Napoleon khỏi nước Nga.  Như tất cả các tổng chỉ huy thiên tài khác, khi thế thua đã rõ, Napoleon  chạy khỏi Nga trước đoàn quân của mình, người chỉ huy đám tàn quân là thống chế Ney. Ney là một quân nhân chân chính, loại chiến sĩ của các anh hùng ca thời cổ đại.  Ông ra trận thường dẫn đầu kỵ binh xung phong, ở Waterloo phải thay ngựa bốn lần vì ngựa bị thương mà kiêt sức, rồi bỏ ngựa  dẫn bộ binh cảm tử xông vào đội hình của người Anh trong những giờ phút  cuối cùng của đế chế. Người Anh  sau đã dùng tên ông đặt cho một chiến hạm lớn của hải quân hoàng gia. Nhưng Ney trong bức tranh trông thật mệt mỏi và thất vọng, khuôn mặt vẽ bằng những nét tối, chìm trong nền của bức tranh.  Phần sáng của bức tranh là ánh tuyết từ mặt đất chiếu lên, cùng với những xác người và những binh sĩ ôm nhau chờ chết vì giá lạnh.

Ở phòng bên cạnh, có một bản “Người suy nghĩ” (Thinker) của Rodin. Tượng người đàn ông tay chống vào cầm ngồi ngẫm nghĩ trên một phiến đá,  từng bắp thịt trên lưng  cũng căng lên theo ý nghĩ. Ngôn ngữ cơ thể rất thống nhất và ấn tượng.  Tượng Thinker bằng đồng, và được  đúc nhiều bản, đặt khắp nơi trên thế giới. Kích cỡ các tượng này đều to như người thường. Nhưng thật ra đơn đặt hàng lúc đầu của Rodin là cả trong một quần thể lớn hơn gồm các nhân vật trong “Thần Khúc” của Dante, với người suy nghĩ (có lẽ mô phỏng chính Dante) ở trung tâm.   Khi làm xong, Rodin lại quá thích nhân vật trung tâm này nên làm nó thành một bức tượng riêng, lớn hơn kích cỡ ban đầu. Bản ở Yale (chỉ cao chừng 70 cm), chính là một ấn bản của bức tượng đầu tiên của Rodin trong quần thể lớn.

Căn phòng thứ ba cũng nhỏ,  trên tường chỉ có vài bức tranh. Trong đó có một trong những bức hoạ nổi tiếng nhât của Van Gogh: Quán càfe đêm (Le cafe de  nuit). Cả bức  vẽ bằng gam vàng xanh, nhấn vào ánh đèn lạnh lẽo toả xuống từ trần nhà. Cafe đêm không phải chỗ  nam thanh nữ tú  tâm sự yêu đương, cũng chẳng phải chỗ  trí thức  nhà văn  cao siêu đàm luận. Nó là chỗ  của các bợm nhậu  bét nhè, của vài anh vô gia cư hay chán đời không biết đi đâu, và của các cô gái điếm đang giờ ế khách. Tất cả nhân vật trong ảnh, mặc dầu không ai rõ mặt, đều tỏa ra vẻ ủ rũ mệt mỏi.  Bản thân Van Gogh đã vẽ bức tranh này để gán nợ cho chủ quán. Ông chủ,  đứng giữa bức tranh, mặc comple trắng nhưng không giống Humphrey Bogart của Casablanca một tẹo nào. Mắt ông đầy quầng thâm, và nét mặt  chẳng được vui. Mà vui thế nào được khi quán toàn những khách trả nợ bằng tranh  thay bằng tiền mặt.

Giữa bức hoạ của Sheffer và tượng của Rodin có một chiếc ghế dài màu đen, chiếc ghế duy nhất trong cả mấy căn phòng. Bạn có thể ngồi đây rất lâu,  ngắm tranh hay nhìn ra cửa sổ, dưới nó là khu phố riêng của Đại học Yale. Phố rất hẹp, một chiều và chỉ một làn xe. Một bên là Harkness tower, một biểu tượng của trường thường thấy trên các bưu thiếp và trụ sở của Bones society, một toà nhà nâu cục mịch không có cửa sổ và cửa chính cũng hầu như không bao giờ mở. Mấy chục năm trước, nhưng hội viên của hội này đã sáng lập  cục tình báo trung ương Mỹ (CIA). Bên kia là ký túc xá, với những hàng cây cổ thụ và cổng bằng đá.  Cô nữ sinh đứng tần ngần dưới mái đá như chờ bạn trai che ô để bước ra.

Mưa vẫn tiếp tục rơi. Có phải hạt mưa nơi nào cũng  giống nhau ?

Đọc truyện Tam quốc

Nghe nói một trường đại học rất oai đang nghiên cứu đề tài  lập trình tế bào. Đây sẽ là một phát minh vĩ đại nhất, thay đổi bộ mặt thế giới, theo cả nghĩa bóng và nghĩa đen.   Chẳng hạn các tế bào da mặt đang ở độ tuổi 4x, chỉ cần bấm nút một cái, chúng sẽ tự lập trình trở thành tế bào x4—với mọi giá trị của x.

Ngày thứ sáu trước kỳ nghỉ xuân, các tế bào trong cơ thể, không đợi công trình ISI  của các nhà khoa học của truòng đại học rất nổi tiếng kia, tự động bấm nút chuyển sang cơ chế lười.  Mặc dầu chủ nhân của chúng muốn nhỏm ra khỏi giường và tập thể dục, bọn tế bào nhất loạt nằm ườn  ra, giương mỏ lên thách thức một cách lì lợm. Cuối cùng có vài chú tế bào não khá nhất,  hơi nâng được cơ cổ nhỏm lên nhìn ra ngoài cửa sổ.

Tuyết lại rơi ! Vừa hôm nọ 8/3,  ông giời như cũng hơi nịnh đầm cho một ngày nắng ấm chim chóc chui ra hót líu lo. Cái trò nịnh này, như ta đã biết là  được vài hôm là trở mặt ngay, nên hôm nay tuyết  rơi tá lả, cộng thêm gió thổi làm hạt tuyết bay lên lộn xuống, quất vào cành cây run lẩy bẩy.  Tự dưng nhớ câu La Quán Trung tả Triệu Vân trong Tam quốc:  “Ngọn thương của Vân  múa, khi lên khi xuống thấp thoáng như cành hoa lê bay, lộn trước lộn sau tơi bời như hạt mưa  tuyết toả.” 

Tam quốc có lẽ là một trong những tiểu thuyết quen thuôc  nhất với người Việt.  Truyện viết rất khéo,  lúc bé mê đã đành, mà lớn lên đọc vẫn  thấy hay, theo một cách khác. Hơn một thế kỷ trước, khi chữ quốc ngữ bắt đầu được phổ dụng, Tam quốc là một trong những bộ sách lớn đầu tiên được  in,  mục đích khuyến khích việc học chữ.  Câu nói nổi tiếng của ông  Nguyễn Văn Vĩnh  “Nước Nam ta mai sau này, hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ…” chính là nằm trong phần lời tựa của ông viết cho bản dịch Tam quốc của cụ Phan Kế Bính.

Những năm 70-80, Tam quốc in thành bộ 8 hay 13 tập gì đó. Chẳng nhà nào có trọn bộ, hay có thì cũng dấu thật kỹ,  thỉnh thoảng lôi ra thưởng thức nhâm nhi một mình.  Trẻ con chuyền tay nhau đọc, thường là một tập đơn lẻ, không bao giờ có trang đầu mà cũng chẳng có trang cuối, các ông tướng thì anh nào trông cũng như Quan Công vì  toàn bị vẽ thêm một hai bộ râu bằng mực tím.   Mượn được quyển ấy về, nếu không có bánh kẹo gì chi ra khá đậm, hoặc nịnh nọt làm bài hộ cho chủ sách, thì còn xơi.  Được nhõn một hôm, nó đã lù lù sang đòi, ý chừng bánh đã hết hoặc lại lười làm bài.  Lần đầu được đọc no nê là đi học thêm tiếng  Anh ở nhà cô Ý Nhi, vì chồng cô có một bộ mượn thư viện làm sách khảo cứu. Từ đó trở đi, hôm nào đi học tiếng Anh cũng đi sớm hai tiếng để ôn bài.  Sau hai năm thì tiếng Anh vẫn ở mức tuần có bảy ngày Monday, Tuesday…. và ngày nào cũng I love you,  nhưng hiểu biết Tam quốc đã tiến rất khá.

Lũ tế bào não tự dưng khui ra anh Triệu Vân, chúng khoái chí lan man đi theo anh  một lúc. Hồi bé chỉ nhớ anh Vân  đẹp giai võ giỏi cực kỳ, lớn lên phải đi làm kiếm tiền rồi tự dưng nghĩ luẩn quẩn không biết vợ con gia đình anh sống thế nào, vì đọc truyên thấy chả khi nào anh được làm  gì to,  so với các anh Quan Công, Trương Phi, Nguỵ Diên, Lý Nghiêm vv đều chức tước quan trọng, bổng lộc chắc cũng khá. Mãi sau khi Lưu Bị chết, họ Triệu già rồi mới được thăng Chinh Nam tướng quân, làm được vài năm thì mất.  Vài chục năm sau, Lưu Thiện đặt tên thuỵ cho các công thần (một kiểu tôn vinh ngày xưa), Vân không được đặt, Khương Duy cùng các tướng xin mãi mới được.

Tả Triệu Vân ngoài đời (tức là lúc anh không múa giáo), chỉ có vài chuyện.   Khi Lưu Bị đánh úp Kinh Châu, Triệu Vân tấn công quận Quế Dương,  tướng  trấn thủ ở đó là Triệu Phạm thấy giữ thành không nổi liền ra hàng. Phạm có người chị dâu ở góa, là bậc quốc sắc, muốn mai mối cho Vân để làm thân, nhưng Vân nhất quyết  không đồng ý. Vài tháng sau Triệu Phạm làm phản, Vân cũng chỉ cười.

Sau đó vài năm,  Lưu Bị chiếm được Ích Châu, các tướng đi theo đã gian khổ  lâu năm, nhiều người kiến nghị chia chác nhà cửa, ruộng vườn ở Thành Đô làm phần thưởng.  Riêng Vân phản đối, nói

…. chúng ta không nên tham sự yên ổn. Đợi đến khi bình định được thiên hạ, chúng ta ai nấy trở về trồng dâu cấy lúa trên đất của mình, thế mới phải. Trăm họ Ích châu vừa trải qua loạn lạc, ruộng vườn nên trả cho họ cày cấy làm ăn. Như thế chúng ta mới làm họ yên lòng và mới trưng dụng được sức người sức của họ được

Lưu Bị nghe theo, nhờ vậy Ích châu được ổn định dưới chính quyền mới. Nếu những chuyện này có  thật, thì  “Tử Long toàn thân là đảm” cũng không hẳn là quá lời. Người tài năng mà tinh thần lại như thế, thì người ta chỉ có sợ hay phục, chứ không ai thích, lẽ dĩ nhiên không phe nào  muốn đủn anh lên cao, kết cục là không được lên chức cũng là điều dễ hiểu.

Lan man đến đây thì bọn tế bào não cũng lăn quay ra lười nốt.

 

 

 

 

 

 

Nhân vật lịch sử: Tuệ Trung Thượng Sĩ

Núi Yên Tử là một ngọn núi nằm ở ranh giới giữa 2 tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh. Núi này cao, nhưng cũng còn xa so với những ngọn cao nhất ở Việt Nam. Nó nổi tiếng vì được coi là đất Phật, gắn liền với thiền phái Trúc Lâm.

Giáo chủ thứ nhất của phái Trúc Lâm Yên Tử là vua Trần Nhân Tông, đồng thời cũng là một trong những vị vua nổi tiếng nhất trong lịch sử Việt Nam. Vua Nhân Tông lãnh đạo cả nước đánh bại quân Nguyên, bến Tây Kết giết Toa Đô, sông Bạch Đằng bắt Ô Mã, viết nên hùng ca cho người Việt. Nhà vua sau từ bỏ ngai vàng, tu trên Yên Tử, đi khất thực (xin ăn) đến tận Chiêm Thành, người Chiêm rất mến mộ. Nhưng đạo Phật, và cả Yên tử, đã đến với các vua Trần từ khá lâu trước đó.

Năm 1226, Trần Cảnh (sau này là Trần Thái Tông, vua đầu tiên của nhà Trần, ông của Trần Nhân Tông sau này) là một cậu bé, nhờ có thế lực của ông chú (Trần Thủ Độ) là người cầm quyền chính lúc bấy giờ, được vào hầu trong cung. Nhà vua lúc đó là cô bé Lý Chiêu Hoàng hơn Trần Cảnh một tuổi. Hai đứa bé chơi với nhau rất thân thiết. Chiêu Hoàng, vừa là chị, vừa là nữ hoàng, dĩ nhiên bắt nạt bạn, lúc thì chạy vào đúng đằng sau bóng, lúc thì té nước, lúc thì ném khăn. Một hôm nữ hoàng ném khăn trầu cho Cảnh, cậu bé đỡ được mà thưa “Bệ hạ có tha tội cho thần không? Thần xin vâng mệnh”. Chiêu Hoàng cười, nói: “Tha tội cho ngươi. Nay ngươi đã biết nói khôn đó”. Trần Thủ Độ nhân đó xe duyên cho hai người lấy nhau, rồi Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Cảnh, xuống làm hoàng hậu. Vương triều nhà Trần bắt đầu.

Các sách sử cũ rất ít khi ghi lại cuộc sống gia đình của các bậc vua chúa. Nhưng nhà vua trẻ, được sống với cô bạn của tuổi thơ và nữ hoàng của mình, có thể đã có một thời gian rất hạnh phúc. Năm 1233,  đứa con trai đầu lòng của họ sinh ra, nhưng không sống được lâu. Sau đó Chiều Hoàng không có mang nữa. Trần Thủ Độ, lo lắng cho tương lai của họ Trần, ép nhà vua bỏ vợ mà lấy công chúa Thuận Thiên, vợ Trần Liễu anh ruột nhà vua. Thuận Thiên là chị  của Chiêu Hoàng, lúc đó có mang 3 tháng. Trần Liễu uất ức khởi binh dọc theo sông Hồng lên đánh kinh thành.

Trần Cảnh khi đó 20 tuổi. Chàng trai trẻ, ngôi vị đã tột cùng mà lòng đầy đau khổ, một buổi tối cùng mấy người tuỳ tùng bỏ cung điện đi lên Yên Tử. Đến sáng thì tới nơi, bỏ ngựa mà leo bộ lên núi. Nhà vua gặp sư trụ trì là hoà thượng Pháp Vân, khóc mà nói

-Trẫm còn thơ ấu, đã sớm mất mẹ cha, chơ vơ đứng trên sĩ dân, không có nơi nương tựa. Lại nghĩ rằng sự nghiệp đế vương đời trước hưng phế bất thường, cho nên trẫm mới lên núi, chỉ muốn cầu thành Phật, chứ chẳng muốn tìm gì khác.

Hoà thượng đáp:

-Trong núi vốn không có Phật. Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm lắng và trí tuệ xuất hiện, đó chính là Phật. Nếu bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chỗ, không cần đi tìm cực khổ bên ngoài.

Ngày hôm sau, Trần Thủ Ðộ đem các quan lên núi Yên Tử đón vua về kinh, nhà vua không chịu về. Thủ Độ liền sai người làm luôn hành quán dưới chân núi họp các quan ở đó, không ai về Thăng Long nữa.  Pháp Vân thấy vậy, cầm tay nhà vua mà nói:

-Phàm làm đấng minh quân, thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình,  tâm thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ không về sao được?

Vua Thái Tông theo Trần Thủ Độ trở về Thăng Long, đem chiến thuyền đóng trên sông mà chặn Trần Liễu. Trần Liễu cô thế, phải giả làm người đánh cá đến gặp em để đầu hàng. Trần Thủ Độ biết tin, đến muốn chém Liễu. Vua Thái Tông dùng thân mình che chở cho anh, Trần Thủ Độ giận, ném thanh gươm xuống sông mà bỏ đi. Trần Liễu thoát chết, nhưng thủ hạ đi theo mấy nghìn người đều bị giết cả. Sau Trần Liễu được phong ấp ở An Sinh (An Sinh Vương), tìm hào kiệt trong thiên hạ về dạy dỗ người con trai là Quốc Tuấn để báo thù.

Vua Thái Tông về kinh đô, có thời gian rảnh rỗi đều chuyên tâm vào việc học kinh, đến cuối đời đã thành một học giả uyên bác. Truyền thống nghiên cứu Phật học của các vua triều Trần bắt đầu từ vị vua đầu tiên. Thế nhưng, từ việc Thái Tông đến với Phật giáo như một cách giải cứu nỗi đau khổ nội tâm, đến việc Nhân Tông  đến với Phật giáo với tư cách một giáo chủ, cũng như từ mối thù sinh tử của An Sinh Vương đến sự hoà hợp giữa hai họ nhà Trần dưới thời Hưng Đạo Vương  (Trần Quốc Tuấn)  có một gạch nối rất quan trọng.

Tuệ Trung  là tên hiệu của Trần Tung, con cả của Trần Liễu (tức anh của Hưng Đạo Vương và hoàng hậu Thiên Cảm sau này). Lớn lên được cử trấn  giữ đất Hồng Lộ (Hải Dương bây giờ). Trong chiến dịch giải phóng Thăng Long, ông cùng Hưng Đạo Vương đem 2 vạn người đánh bại tướng nhà Nguyên là vạn hộ Lưu Thế Anh. Sau chiến tranh ông được thăng tiết độ sứ Thái Bình, nhưng chẳng bao lâu từ chức, lui về thực ấp mà tu niệm.

Tuệ Trung  khí lượng thâm trầm, phong thần nhàn nhã, bản tính thuần hậu, như người sinh ra để học đạo vậy. Các người tu hành đương thời đều kính trọng đạo học và tư duy của ông. Thượng sĩ (có nghĩa như Bồ tát) là cách vua Thánh Tông (cha của Nhân Tông) gọi ông. Vua Thánh Tông cưới em gái của Tuệ Trung (hoàng hậu Thánh Cảm), cũng là người tu hành, coi Tuệ Trung như sư huynh. Vua Nhân Tông (con Thánh Tông) sau theo học ông rất nhiều.

Tuệ Trung không coi trọng hình thức, không lên chùa mà tu tại gia. Một hôm hoàng hâu mời ông vào  cung ăn tiệc. Trên bàn có những món mặn và món chay, ông đã gắp thức ăn một cách không phân biệt. Hoàng hậu hỏi: “Anh tu thiền mà ăn thịt cá thì làm sao mà thành Phật được?” Ông cười đáp: “Phật là Phật, anh là anh; anh không cần thành Phật. Phật không cần thành anh”. Nhân Tông lúc đó còn là cậu bé, ghi nhớ việc ấy. Đến khi trưởng thành, giả bộ ngây thơ hỏi  thầy

-Bạch thượng sĩ, chúng sinh quen cái nghiệp ăn thịt uống rựơu thì làm thế nào mà thoát khỏi tội báo ?

Tuệ Trung  trả lời

-Nếu có người đang đứng xây lưng lại, thình lình vua đi qua sau lưng, người ấy không biết, cầm một vật gì ném nhằm vua. Thử hỏi: người ấy có sợ không, ông vua có giận không? Nên biết hai việc ấy không dính líu gì với nhau vậy.

Tuệ Trung biết là Nhân Tông còn thắc mắc, liền đọc bài kệ

Có loài thì ăn cỏ.
Có loài thì ăn thịt
Xuân về thảo mộc sinh
Tìm đâu thấy tội phúc?

Nhân Tông băn khoăn

-Như vậy thì công phu giữ giới trong sạch không chút xao lãng là để làm gì?

Tuệ Trung cười không đáp. Vua cố nài. Tuệ Trung đọc bai kệ

Trì giới và nhẫn nhục
Thêm tội chẳng thêm phúc
Muốn siêu việt tội phúc
Ðừng trì giới nhẫn nhục.
Trì giới và nhẫn nhục, là căn bản tu luyện của nhà Phật. Tuệ Trung không có ý phá giới, nhưng muốn chỉ ra rằng sự phân biệt giữa tội và phúc,  giữa trì giới và phá giới là một trở lực lớn trong việc giác ngôn.  Ông chủ trương trì giới  mà không kẹt vào ý niệm mình đang trì giới.   Theo ông đây mới là con đường đến sự giải thoát.  Ông  tin vào sự hướng thiện,  chống lại các thành kiến. Một hôm vua Nhân Tông hỏi về tông chỉ thiền phái của Tuệ Trung.  Ông  đáp:

-Hãy quay về tự thân mà tìm lấy tông chỉ ấy, không thể đạt được từ ai khác.

Khi ốm nặng,  Tuệ Trung không nằm trong phòng riêng mà cho kê giường nằm ở  thiền đường.  Thê thiếp kêu khóc  ầm ỹ.  Thiền sư mở mắt ngồi dậy, bảo lấy nước rửa tay súc miệng rồi quở nhẹ rằng: “Sống chết là lẽ thường nhiên, sao lại buồn thảm luyến tiếc để cho chân tính ta náo động?”. Sau đó mất, thọ 61 tuổi.

Vua Nhân Tông  tôn Tuệ Trung làm thầy, mặc dầu ông cũng không truyền y bát theo lối cổ điển. Các tác phẩm của Tuệ Trung ý nghĩa sâu xa, chú trọng việc giác ngộ qua chân tâm, học giả đời sau phân tích rất nhiều. Tư tưởng của ông ảnh hường mạnh mẽ lên thiền Trúc Lâm; Pháp Loa (tổ sư thứ hai của Trúc Lâm) viết  về ông

Gang ròng nhồi lại
Sắt ống đúc thành
Thước trời  đất
Gió mát trăng thanh.

Vĩ thanh: Núi Yên Tử từ lâu đã là thắng cảnh nổi tiếng, phong cảnh tao nhã.  Từ khi có cáp treo, đến mùa lễ, người lên núi  có ngày kể hàng vạn, khí thế dời sông bạt núi. Giặc Nguyên có đến, chắc cũng phải sợ.   Báo chí đăng tin, nhiều vị tu hành đời nay, không biết có phải theo phong thái  người xưa, ăn mặn khá dữ, ngoài ra nhắn tin lại cũng rất nhanh.

Giáo sư phiêu lưu ký: Singapore

Tuần vừa rồi tôi ở Singapore, thăm đai học NUS.

Singapore thì đã rất nhiều người đi và biết rất rõ, nên tốt nhất là chả nên tả cái gì. Các bạn đồng nghiêp ở Sing hiếu khách, mời đi chén liên miên. Tiện tay ghi lại một vài cảm nhận từ các bữa này.

(1) Phần lớn người Sing là gốc Tàu, nói tiếng Tàu với nhau. Nhưng giữa họ có sự phân biệt. Các chức vụ quan trọng xem ra phải do người Tàu đã ở Sing nhiều đời nắm giữ. Vì một lý do nào đó, người Sing rất coi trọng quốc phòng. Thanh niên hết trung học phải vào quân đội 2 năm, giống như chế độ ở Hàn Quôc và Israel. Cái khác là hai nước trên có đối thủ luôn đe doạ rất rõ ràng, còn Singapore có vẻ như không ở trong tình thế ấy (?).

Trong bữa chén thứ nhất, một đồng nghiệp người Tàu than thở là con anh ấy đang phục vụ trong quân đội, nó thích lái xe tăng, nhưng mà không được tuyển, vì bố nó, tức là đồng nghiệp đáng kính kia, là Tàu nhập cư. Tức là đến đời cháu may ra mới lái xe tăng được.

(2) Đường phố ở Sing sạch kinh hoàng, giao thông xây dựng qui hoạch rất ổn, bệnh viện tốt mà chi phí lại thấp. Cái đó đã nhiều người khen. Khen thêm một tí là họ làm tất cả những thứ ấy với một mức thuế thu nhập gần thấp nhất thế giới (cỡ trung bình độ 12%).

Đã sach đẹp như thế, nhưng chính phủ rách việc vẫn tìm cách cải thiện. Dự án lớn, do một quan chức của trường, trong bữa chén thứ 2, tiết lộ, là họ đang nghiên cứu làm sao giảm nhiệt độ toàn thành phố xuống 4 độ C (ở Sing hiện hơi nóng). Nhiệt độ ngoài đường chứ không phải trong các toà nhà, vốn đã được điều hoà gần như liên tục. Một phương án là sơn lại tất cả các con đường và mái nhà bằng màu sáng và loại sơn đặc biệt không hấp thụ nhiệt.

(3) Bữa thứ 3 có năm người, 4 anh châu Á và một anh Tây. Cả 4 anh châu Á đều nghiền chưởng Kim Dung (tât nhiên bằng ngôn ngữ khác nhau), chỉ có Tây trình kém là nghe lơ ngơ không hiểu gì. Open problem đặt ra là tại sao nam giới lại thích chuyện chưởng ? Có phải vì đàn ông thích đánh nhau ? Cái này chả phải, như mình đây là người cực yêu hoà bình. Hay họ thích khám phá các đại án rắm rối phức tạp ? Chắc cũng cóc phải nốt. Hơi đâu.

Câu trả lời đạt điểm cao nhất thuộc về một đồng nghiệp ở khoa kinh tế. Theo anh này, nếu ta chú ý, tất cả các nhân vật nam chính trong truyện Kim Dung đều xuất thân nhà nghèo, đời sống vất vả, còn các nhân vật nữ chính, người yêu tương lai của họ, chẳng những quốc sắc thiên hương, mà đều con nhà quyền quí, cành vàng lá ngọc. Các anh nam chính đang yên lành làm thuê làm mướn, một ngày đẹp trời đi đào sắn lại xơi phải nhân sâm ngàn năm, tự dưng có nội công ngăn sông bạt núi. Rồi ở hiền gặp lành, tự dưng vớ được bí kíp độc đáo trong đống sách cũ (qua đây có thể thấy rõ lợi ích của việc đọc sách), hoặc ra đường tự dưng gặp kỳ nhân chỉ bảo, chẳng mấy chốc có tuyệt kỹ hàng long phục hổ. Thế rồi đi ra đường, tự nhiên gặp nhân vật nữ chính, vừa xinh lại vừa quí, đúng lúc bị đầu gấu trêu ghẹo…. Vài ba cái tự nhiên như vây, làm cho độc giả cảm thấy như cuộc đời như có tia hy vọng 🙂

(4) Đến bữa thứ tư thì vấn đề thứ nhất là không thể ăn được nữa. Các đồng nghiệp tốt bụng thết khách kiểu Quảng đông mỗi bữa rât nhiều món, trong một bữa mỗi người dùng số lượng bát đĩa đủ cho một gia đình 4 người và 2 con mèo, và món nào cũng có vẻ rât bổ (mặc dầu ăn xong không thấy võ công lên tý nào, chỉ thấy bụng có vẻ nặng nặng).

Câu hỏi lớn của bữa này là đàn ông thời hiện đại và trung cổ ai dũng cảm hơn ? Các quan khách đi đến sự nhất trí là đàn ông thời chúng ta đang sống là dũng cảm nhất. Trong các chuyện cổ tích, ngày xủa ngày xưa các hiệp sĩ (tất nhiên đại diện cho sự dũng cảm) chiến đấu tay đôi với sư tử (hoặc hổ, báo, rồng vv, tuỳ theo văn hoá mỗi nước) để giải cứu (và sau đó kết hôn) công chúa.

Các hiêp sĩ thời hiện đại kết hôn luôn với sư tử.

Disclaimer: Người viết bài này không phải là hiệp sĩ. Để cho chắc ăn, anh cũng không quen ai là hiệp sĩ.

 

 

 

 

 

 

 

 

Kung-fu tốt,kung-fu xấu

Người Việt ta ít nhiều đều đọc chuyện chưởng, hay xem phim kiếm hiệp. Dĩ nhiên của Tàu.

Cuối những năm 80,và trong thập kỷ 90, thời mở cửa, các văn hoá phẩm này ồ ạt tràn sang. Từ phim lẻ  vài ba tiếng đến phim bộ, loại có thể xem từ lúc con bạn còn ị đùn đến lúc nó  lấy vợ  (thời gian này có thể thay đổi từ 3 đến 30 năm,  theo từng gia đình),  rồi các loại truyện ngắn truyện dài  đủ cả.

Mặc dầu thể loại biến đổi,  nội dung các văn hoá phẩm này tương đối giống nhau. Công phu đã tuyệt đỉnh,  kiếm khách lại đa tình. Thôi thì tha hồ mà yêu đương nức nở. Nhưng đến màn kết thì kiểu gì thì kiểu, anh kung-fu tốt phải đánh lăn quay anh kung-fu xấu. Xấu đây không phải là xấu giai, mà là tư tưởng anh có vấn đề, nên ku loay hoay tập luyện kiểu gì cũng không thành cao thủ nhất lưu được.

Điểm đặc trưng ở đây là cả  hai anh fu tốt và fu xấu, phần nhiều đều cùng là người Trung Quốc.  Cao thủ chùa Thiếu Lâm, Võ Đang tỷ thí, giang  hồ hai bên bờ sông Trường Giang tranh hùng, rốt cuộc đều là Tàu đánh lẫn nhau cả.

Theo dòng thời gian, Trung Quốc trở thành một quốc gia mạnh mẽ,  tăng dần ảnh hưởng ra bên ngoài. Dòng văn chương, phim ảnh này cũng khác đi. Anh fu tốt, nhất đinh vẫn phải là người Trung Quốc xịn, nhưng vai fu xấu, giờ thường đã được chuyển sang cho các  võ sư đại diện cho các thế lực hắc ám đến từ phương Tây, hay trong một vài trường hợp, Nhật Bản. Dễ thấy nhất là sự thay đổi trong các phim của Thành Long từ những năm 70-80 đến nay.

Tôi có một đồng nghiệp Trung Quốc,  lâu lâu mới gặp. Gọi là Trung Quốc, thật ra anh này sống ở Mỹ từ giữa những năm 80, học xong đại học là đi ngay, tính tình rất dễ chịu.   Anh quan tâm đến tình hình quốc tế khá nhiều. Ngồi ăn tối, anh kể chuyện theo dõi đại hội (của Việt Nam hồi đầu năm), phân tích ông này cụ kia không kém gì BBC tiếng Việt. Chuyện đã đến đấy, thì rất dễ nhảy sang vấn đề biên giới. Nhưng nếu một bên cứ gọi là biển Nam Hải, bên kia  khăng khăng là biển Đông, thì cá rán sẽ dễ bị nguội ngắt ra không ai ăn. Chuyển qua chủ đề đại cương hơn, là các đường biên giới ở châu Á nói chung, anh có một lý thuyết khá thú vị là các nước phương Tây, trong quá khứ, cố tình chia một số đường biên giữa các nước châu Á  một cách mập mờ, để các nước trong cuộc tranh giành gây hấn với nhau không nguôi (?!).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhân vật lịch sử: vua Lê Thái Tông

Vì truyền thuyết có lẽ rất khó tin của cụ rùa đòi kiếm, thành ra vua Lê Lợi tự dưng gắn với hồ gươm.  Nên bây giờ trên mạn đó có rất nhiều phố người nhà  Lê.

Hai phố to nhất là hai cụ vua: Lê Thái Tổ  và Lê Thánh Tông. Phố Lê Thái Tổ chạy dọc hồ ra đến Tràng Thi. Còn phố  Lê Thánh Tông cũng bắt đầu từ Tràng Thi, chỗ nhà hát lớn.  Dĩ nhiên cả hai  phố đều là  đất vàng đắt kinh hoàng.

Về mặt gia phả mà nói, cụ Lê Thái Tổ (Lê Lợi) là vua ông, cụ Lê Thánh Tông là vua cháu. Cái gạch nối ở giữa, là ông vua con, lại không có phố.

Ông vua con đây chính là vua Lê Thái Tông, mà cuộc đời rất ngắn nhưng vô cùng đặc biệt.

Vua Lê Thái Tông làm vua vỏn vẹn có 9 năm, từ lúc ông 10 đến lúc 19 tuổi. Trong lịch sử, vua bé con mà lại mất sớm như thế,  nhiều khi do các quyền thần dựng lên và dẹp đi, vì mục đích cá nhân của họ.

Kịch bản lên ngôi của vua Lê Thái Tông có lẽ cũng bắt đầu như thế. Sau khi đuổi được giặc Minh lên làm vua, Thái Tổ Lê Lợi  có con lớn là Tư Tề,  đã trưởng thành, từng tham gia chiến trận.  Ông này đã  được lâp lên làm giám quốc, thay bố cai trị đất nước. Vì một lý do nào đó, Lê Thái Tổ bỏ Tư Tề, lập con thứ là Nguyên Long làm thái tử. Đây  là kết quả của cuộc tranh giành quyền lực đầu tiên nhà Hậu Lê, khởi đầu cho những cuộc tranh giành khác kéo dài cả mấy chục năm và dẫn một thống kê thú vị là nghề rủi ro nhất trong thời gian đầu nhà Lê không phải là là nghề mò ngọc trai hay săn thú dữ mà là nghề làm thái úy.

Hoàng tử Nguyên Long được sự ủng hộ của Lê Sát, Lê Ngân, Phạm Vấn;  Tư Tề có hậu thuẫn từ Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo. Cả năm người đều là khai quốc công thần hạng nhất của nhà Lê.  Kết quả phe  Lê Sát thắng; nhiều nhà sử học cho cuộc tranh chấp này là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của cả Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo.

Hoàng tử Nguyên Long lên ngôi năm 1433, tức vua Lê Thái Tông, lúc có 10 tuổi. Phạm Vấn mất sớm, quyền lực tập trung vào tay Lê Sát. Con gái ông được lâp làm nguyên phi. Các tướng Lam Sơn thân với Lê Sát như Lê Ngân, Lê Văn Linh, Lê Ê đều giữ địa vị quan trọng trong triều.  Những người không ăn cánh với ông  kẻ bị thủ tiêu, người bị cách chức hay đẩy đi các tỉnh.

Kịch bản đến đây giống như các sách cổ. Nhưng nó thay đổi rất nhanh,  ngoài sự dự liệu của cả  những người trong cuộc.  Năm 1437, nhà vua 14 tuổi. Tuổi này trẻ con ở Mỹ chưa được luật pháp cho phép ở nhà một mình; ở Việt nam thì nhiều bạn còn bắt bố mẹ mặc quần áo. Năm 1437, vua Lê Thái Tông giết cả hai đại thần Lê Sát và Lê Ngân.

Đầu tiên nhà vua gọi Trịnh Khả từ tỉnh ngoài về chỉ huy cấm binh ở kinh đô. Trịnh Khả là người bị Lê Sát đẩy ra ngoài vì không cùng cánh. Lê Sát  vào cung tâu với nhà vua lo là Khả sẽ hại mình. Nhà vua không nói gì. Ba ngày sau Lê Sát bị bắt, con gái đang làm nguyên phi bị giáng làm thứ dân. Đến tháng 7 năm đó, Lê Sát bị kết tội, buộc phải tự sát.

Chức của Lê Sát được trao cho Lê Ngân, con gái ông này được tuyển làm nguyên phi thay con gái Lê Sát.  Đó chỉ là một nước cờ của ông vua 14 tuổi,  có lẽ nhằm ly khai hai viên đại thần này mà thôi.  Bản án giành cho Lê Ngân cũng đã được viết rồi.

Tháng 11 cùng năm, Lê Ngân cũng bị bắt và buộc phải tự sát, con gái  bị giáng làm cung nữ.  Tội danh của ông có lẽ là tội danh đặc biệt nhất thời đó. Lê Ngân bị buộc tội là cúng bái trong nhà để cho con gái được vua yêu.  Thật là một bài học đáng ghi nhớ cho các ông bố vợ. Triều thần có phần bức xúc vì sự lạm quyền của Lê Sát, nhưng đến Lê Ngân thì không ít người cam chịu sự trừng phạt của nhà vua, mà nói thẳng là ông bị oan.

Cầm quyền trong tay, Lê Thái Tông tỏ ra là một ông vua vững vàng trong nhiều lĩnh vực. Năm 1438, ông chỉnh đốn lại việc thi cử, lâp ra lệ tuần tự thi hương 5 năm một lần, thi hội 6 năm một lần. Năm 1942, mở khoa thi tiến sĩ. Tục khắc tên tiến sĩ vào bia Văn Miếu bắt đầu từ đó. (Bây giờ tiến sĩ hơi nhiều, đá thì đắt nên  tục này phải bỏ.)  Năm 1439 và 1441, nhà vua thân chinh cầm quân bình định miền Tây Bắc, dẹp yên nhiều cuộc chống đối được người Lào hậu thuẫn.

Năm 19442, Lê Thái Tông mới 19 tuổi  mất đột ngột tại Lệ Chi Viên, kéo theo sự thảm sát của gia đình Nguyễn Trãi.

Nhà vua có bốn con trai. Bang Cơ mới 2 tuổi được lâp làm thái tử, tức vua Lê Nhân Tôn. Thời gian ông làm vua, thái uý Trịnh Khả bị giết. Năm 1459, nguòi anh khác mẹ là Nghi Dân làm binh biến giết  vua Nhân Tôn. Nghi Dân làm vua được chưa đầy một năm. Cuộc đảo chính đầu tiên của các đại thần Lê Thụ,Đỗ Bí thất bại, những nguòi này chịu nạn. Chỉ vài tháng sau, Đinh Liệt và Nguyễn Xí, những cận vệ cuối cùng của Thái Tổ Lê Lợi còn sót lại, cùng thái uý Lê Lăng đảo chính thành công. Nghi Dân chết. Lê Lăng muốn lập hoàng tử Khắc Xương lên ngôi, nhưng ông này từ chối. Hoàng tử cuối cùng là Tư Thành được lập làm vua Lê Thánh Tông. Sau đó không lâu, Khắc Xương và Lê Lăng bị giết. Thời kỳ văn trị của nhà Lê bắt đầu.

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhật ký Yale: Giải mã Enigma

Tuần này khoa toán có một buổi nói chuyện đặc biệt. Khách mời là David Saltman, giám đốc của một trong ba trung tâm nghiên cứu của IDA (Institute for Defence Analysis), một dạng CIA công nghê của chính phủ.  Bác Saltman ngày xưa làm tiến sĩ toán tại Yale, và đi dậy học một thời gian khá dài. Trong một ngày đẹp trời, tinh thần ái quốc nổi lên, bác đầu quân cho IDA. Thật ra ở IDA các chuyên viên cũng làm toán, nhưng làm toán gì thì cóc được nói ra ngoài. Cũng như ca sĩ sáng tác nhạc chỉ được hát cho nhau nghe.

Vì không được nói cái bác đang làm, bác nói về cái ngừoi khác làm. Cụ thể là chương trình giải mã Enigma.

Enigma quá nổi tiếng, nó là máy mã hoá của Đức trong thế chiến thứ hai. Để buổi nói chuyện thêm xôm, bác S. đem đến  một máy  Enigma xịn, tài sản của IDA, nặng như cùm.  Quá trình giải mã Enigma bạn chắc đã xem qua bộ phim The Immitation Game  gần đây, với  anh  Benedict Cumberbatch  đẹp giai và  cô Keira Knightley eo thon. Phim kể về công trình của Alan Turing, nhà toán học lừng lẫy người Anh, và nhóm của anh, đã phá mã Enigma thành công. Theo giới sử học Anh-Mỹ, công trình này đã giúp kết thúc chiến tranh sớm hai năm, và tránh được cái chết cho hàng triệu người.

Chỉ có điều, Turing không phải người đầu tiên làm được điều đó.

Chuyện của Saltman hướng về  một nhóm nhà toán học người Balan, dẫn đầu bởi Marian Rejewski, đã phá mã Enigma thành công từ những năm 30s, 10 năm trước nhóm của Tủring. Đã có những giai đoạn nhóm này có thể đọc được 75% các trao đổi của quân đôi Đức, đáng tiếc công trình của họ không giúp cho quân đội Balan, với trang bị kém hơn hẳn và phải thụ địch từ cả hai phía, tránh khỏi thảm bại. Lịch sử, dĩ nhiên được viết bởi nước thắng cuộc.

Trong quá trình giải mã, Rejewski và đồng đội có một số ý tưởng rất thông minh. Một ví dụ là mật mã sau:

TYUE MHJU STKJ ITHY QURE XCDF ZSAI NHJM KOPH XCVB BFYT ĐHIU QPOK ÁZXD MING

CTUO OKPO ẺKGU VBGI HINU NHHJ SDAW QECU EKMH JPOY TVFG SEEG VGUI MFDX

Quá trình mã hoá dựa trên các hoán vị của 26 chữ cái.  Cái hiểm hóc của Enigma là mỗi lần bấm một chữ cái mới trong bản tin cần chuyển, máy sẽ mã hoá chữ này bằng một hoán vị mới. Chẳng hạn thông tin (nhậy cảm)  BEO, sẽ được mã hoá thành p(B) q(E) r(O), trong đó p,q,r là ba hoán vị khác nhau do máy Enigma tự làm ra vào thời điểm gõ chữ.

Tất nhiên, vì  sinh ra bởi  máy, các hoán vị P,Q,R không phải ngẫu nhiên. Một đặc điểm của Enigma, do cơ chế cơ khí của nó,  là tất cả các hoán vị do nó sinh ra gồm các cập chữ đảo cho nhau, chẳng hạn nếu p(B)= G, thì p(G)= B, q(E)= A thì q(A)= E, r(O)= Y thì r(Y)= O vv. Vì vậy không có chữ nào được hoán vị với chính nó.  Bạn có thể thấy trong mật mã trên không có chữ L nào. Điều đó cho thấy khả năng rất cao là đoạn văn chưa mã hoá gồm toàn chữ L (dĩ nhiên do nhân viên điện đài gõ chơi để thử máy). Đoạn văn này chả có nội dung gì, nhưng một khi biết cả đoạn chưa mã hoá và đoạn đã mã hoá, thì khả năng đoán được mã là khá cao.

Các hoán vị của Enigma được thay đổi hàng ngày, bằng cách quay 3  trục trên máy. Các trục sẽ đứng vào một tổ hợp cố định trong ngày. (Trong thực tế tổ hợp  này là 3 số, tôi sẽ dùng các chữ cái cho dễ diễn đạt.) Chẳng hạn các trục được xét ở vị trí RU-AB-AT  thì trong ngày hôm đó máy sẽ mã hoá một kiểu, nếu hôm sau trục để theo vị trí khác, như DO-NC-ON, máy sẽ mã hoá theo kiểu khác. Trong phim The Immitation Game, nhóm của Turing phải giải mã  từng ngày, tức là họ tìm cách đoántổ hợp trục của ngày hôm đó, có ngày tìm được, có ngày không. Nhưng  Keira thì hôm nào  cũng xinh.

Trong một thời gian dài, nhóm toán học Balan đoán rất thành công tổ hợp  này.  Thành công này, trớ trêu, được tạo nên bởi sự cẩn thận của người Đức. Các anh Đức, để tăng thêm phần khó cho đối phương, quyết định là mỗi thông tin gửi đi phải được dùng một tổ hợp  trục khác nhau. Tổ hợp này được gửi ở đầu đoạn văn, nhân viên mật mã đọc nó ra bằng tổ hợp của ngày, sau đó chỉnh máy vào tổ hợp trục mới để giải mã, giải xong lại quay máy lại vào tổ hợp của ngày như cũ.  Hiển nhiên đây là một tầng bảo mật mới.

Vấn đề ở chỗ, để cho  chắc ăn,  người Đức gửi tổ hợp trục  mới hai lần ở đầu đoạn văn, đề phòng khi thông tin bị nhiễu (cũng như khi để số ĐT cho ai đó trên băng ghi âm, bạn nhắc lại hai lần). Thông điệp gửi đi  sẽ trông thế này

LA-UN-HA LA-UN-HA   HOM NAY THONG CHE ĐAU BUNG.

Dĩ nhiên, người Balan không nhìn thấy thông điệp này, họ chỉ bắt đươc bản mã hoá thôi.

TI-PU-CV CG-ON-DF   LKJ NHU TTYDF GIO LPY BGTI

Cái mà họ biết, là 12 chữ cái đầu tiên là mã hoá hai lần liền của cùng  một tổ hợp. Nếu  các hoán vị Enigma đã dùng là p_1, p_2,p_3……., thì có nghĩa là p_1(T)= p_7 (c), p_2 (I)= p_8 (G) vv. Nhờ thông tin này, và một số kiến thức về sự vận hành của máy, và tất nhiên, một phần may mắn, họ tìm ra được tổ hợp của ngày, và qua đó đọc hết các trao đổi của đối phương ngày hôm đó. Đáng khâm phục hơn, khác với nhóm Turing, nhóm này không có một máy Enigma nào của quân đội Đức. (Họ biết nguyên lý hoạt động của máy và có thể có một Enigma cũ hơn; Enigma được dùng vào mục đích dân sự từ những năm 1920.)

Các ý tưởng của nhóm Balan được Turing và đồng đội sử dụng và phát triển khá nhiều. Chính phủ  Balan  bất bình vì trong bộ phim The Immitation Game (và nhiều tư liệu khác), chiến công của nhóm Rejewsky chỉ được nhắc rất qua loa. (Trong phim IG chỉ có một câu thoại  nhắc đến họ.)  Balan đang có một phong trào lobby cho việc đề cao công lao của nhóm này.

Về con số 2 năm và mấy triệu người, mình đoán các sử gia ngây ngất men chiến thắng cũng hơi nói quá lên một chút. (Tổng số thiệt hại của Anh trong cả cuộc chiến là 450.000 người; của Mỹ còn ít hơn một chút.) Không nhớ  có chiến dịch hay trận đánh lớn nào mà việc giải mã  qua Enigma có vai trò bản lề ? Một số nhận định cho thấy vai trò việc giải mã quan trọng nhất trong việc đánh đắm một số lớn tàu chở nguyên liệu của đối phương. Rommel phải chịu thất bại và rút khỏi Bắc Phi một phần vì xe tăng hết xăng.

Còn cái máy Enigma, đúng là đồ nồi đồng cối đá của Đức, sau hơn 60 năm vẫn hoạt động một cách rất ổn, bấm đâu chạy đấy.