Skip to content

Nhật ký Yale: Hội thảo biển Đông

Cuối tuần qua tại Yale diễn ra một hội thảo về tình hình biển Đông, do MacMillan center (Yale) và IVCE (Ínstitute for Vietnamese culture and education), một tổ chức độc lập, tài trợ (ban tổ chức  gồm Trần Đức Anh Sơn, Quang Phu Van,  Erik Harms và Michael Dove).

Hội thảo có nhiều học giả quốc tế tham gia. Tôi xin tóm tắt một vài ý chính đáng chú ý từ các bài phát biểu của một số chuyên gia không phải gốc Việt hoặc gốc Hoa.  Các đoạn tiếng Anh là trích nguyên văn từ bài tóm tắt của diễn giả.  Hy vọng trường sẽ upload video links trong thời gian gần đây.

Bill Hayton (Ásia Program, Chatham house, UK) phát  biểu về nguồn gốc bản đồ biển của Trung quốc, theo ông bản đồ này mới có từ năm 1933:

China’s historic claim to the South China Sea only emerged after 1933 as response to the annexation by France of several of the Spratly Islands.

The French annexation prompted an angry, though contradictory, responds among Chinese state officials, journalists and educationalists. This coincide with the first formal effort by the Republic of China to define the country’s territory through its “Land and Water Maps Inspection Committee”. This effort was not a process of documenting a pre-existing and self-evident claim, but of imagining, constructing and asserting it through the mobilization of archive documents.

 

Carlyle Thayer (Univ. New South Wales, Australia) phát biểu về chiến lựợc của Trung quốc với các đảo nhân tạo.

Analysts have identified four main drivers behind  China’s policy of constructing artificial islands in the South China Sea: nationalism, fisheries, hydrocarbons and geo-strategic imperatives. The geo-strategic imperatives are the most important.

China’s artificial islands in the Spratly archipelago will serve as forward operating bases for Chinese fisheries and hydrocarbon industries. More importantly, the infrastructure on these artificial islands will support a growing military presence in the future. China is engaging in “new colonialism” by constructing upwards from submerged reefs in order to assert control of the adjacent waters and recourses.

The present US. Fredom of Navigation Operational Patrols are unlikely to dissuade China from exerting control over the South China Sea. In summary, China is slowly and deliberately excising the maritime heart out of Southeast Asia and by gradually militarizing its artificial islands it will later the regional naval balance of powers in coming decades.

 

Daniel Schaeffer (Ásia think-tank 21, France) nói về mục đích chính của Trung quốc tại biển Đông. Các ý kiến của ông có chỗ tương đồng với ông Thayer, nhưng có lẽ vì  Schaeffer  là một vị tướng, nên nhìn nhận vấn đề qua đơn vị tầu ngầm, như bạn sẽ thấy ở dưới.

Contrary to what a lot of different observers area spreading over the world, the main reasons of Chinese claim are not based on the existence of hydrocarbon in the subsoil, neither on that of the sea living resources, nor the safety and security of the international navigation.  These are only stakes.

The main reason is strategic. Because the utmost problem for China, which feels not only contained, but threatened by the US, is to be able to have its noisy Jin-class SSBNs securely exit their Sanya homeport with two operational possibilities: diving in the depths of the South China Sea, or escape this semi-enclosed sea through the Bashi strait in order to enter the Pacific ocean, and come as close as possible to the western US continent and put the biggest towns at firing range of the Julang 2 nuclear missiles. This is the only valid reason for which China wants to empty the South China Sea of any foreign navy: escape the foreign tracking of its boats.

 

Aileen Baviera (Univ. of the Philippines) phát biểu về quan hệ giữa Mỹ, Trung Quốc và Philippines, và những mối quan ngại của Phillipines.

Currently, China’s neighborhood policy, particularly with reference to the South China Sea, is full of contradiction. On the other hand, the Philippines is caught in the bind on whether to be guided by principles or pragmatism in its approach towards China’s more muscular behavior. It has to rely on a military alliance with the US, whose credibility is doubted in key policy circles. The Philippines has staked its claim to marine resources at apparent great political cost, knowing full well that the solutions may be beyond reach without making even more compromises.

For the Philippines, the brewing rivalry between major powers threatens to overlay its other goals and concerns, raising questions about whether its core interests will be ultimately be served.

 

Harry Kazianis và Patrick Cronin (Potomac Foundation, US) có ý kiến về đường lối của Mỹ trong khu vực. Ngôn ngữ của họ khá dứt khoát. Cronin có nhắc tới việc Mỹ có thể bỏ cấm vận vũ khí hoàn toàn với Việt Nam trong thời gian tới.

Bài của Kazinanis mang tựa đề  “Shamefare: A new US strategy for the South China Sea”

Washington, along with its allies and partners in the South China Sea region–and indeed, all of the Indo-Pacific area–face a rising China determined to change to status quo in its favor. America and like-minded nations throughout the region must devise a non-kinetic, asymmetric approach to deter Chinese actions and ensure that if Bejing continues on with aggressively altering the status quo it will pay a very high costs for its actions.

 

James Kraska (US Naval War college) phát biểu về việc Trung quốc dùng các đội dân quân trên biển một cách có tổ chức và sự vi phạm luật hàng hải của họ. Bài phát biểu có nhiều hình ảnh minh hoạ, trong đó có một đoạn video một tàu lớn của Trung quốc đâm chìm một tàu đánh cá Việt Nam, hoặc các tàu Trung quốc xích chặt vào nhau để chống lại sự can thiệp của hải quân Nhật bản.

China operates a massive network of fishing vessels and commercial trawlers that operate in conjunction with its law enforcement to change the status quo in the South China Sea. This asymmetric approach avoids overt militarization of the disputes, while rendering a decisive operational advantage to China. China’s maritime militia conduct operations that are inconsistent with the peacetime international law of the sea.

The militia are also posed to see as an iregular naval force multiplier during armed conflict, which circumvents the law of naval warfare and erases the distinction between warships and civilian vessels. China’s maritime militia poses political, operation and legal challenges to its neighbors.

Kraska cũng nhắc tới chuyện biển Đông là khu vực cáp truyền tin hay bị hỏng nhất, và liên hệ với sự có mặt của các tàu dân quân Trung Quốc. Ông nói đó  chỉ là một ý tưởng,  không có bằng chứng nào cụ thể.

 

 

Bạn có thể đọc thêm tường thuật của báo Tuổi Trẻ ở hai link dưới đây. Ý kiến của Cronin được viết lại khá kỹ, ngoài ra có  nhiều thông tin khác về khía cạnh luật pháp.

http://tuoitre.vn/tin/the-gioi/20160508/xung-dot-bien-dong-tham-vong-cua-trung-quoc-qua-ro/1097278.html

http://tuoitre.vn/tin/the-gioi/20160509/bien-dong-tuan-thu-luat-phap-quoc-te-la-dung-dan-nhat/1097527.html

 

 

 

Bạn bạn bạn nhiều hơn bạn bạn

Thứ nhất là đố bác nào đối được câu này !

Thứ hai, chẳng những nó có nghĩa tiếng Việt đàng hoàng, mà ý nghĩa toán học cũng rất thú vị.

Trường hợp này hay xảy ra trong thực tế: Mình nghĩ tới một anh/chị bạn nào, thì y như rằng cu đó có nhiều bạn hơn mình. Ức chế đếch chịu được ! GATO.

Thật ra cái này chẳng phải ông trời trêu tức chúng ta, mà là một hiện tượng rất logic.

Trước hết, ta có thể giải thích theo kiểu chị Thanh Tâm. Bạn nghĩ tới ai, hẳn phải có lý do. Tức là tay đó có gì tương đối nối trội, chẳng hạn má lúm đồng tiền nhé, hay xe đạp Peugeot (cái này cho thấy người viết thuộc thế hệ 6X-7X; chuẩn giờ nó khác). Vậy thì y thị hot cũng là đương nhiên.
Tiếp theo, như ta đã biết, khi  không làm được gì khác hơn  thì làm toán. Ta có thể mô hình hoá hiên tượng như sau. Có một tập hơp N người, đánh số 1,2,..,N, và giả sử người thứ k có b(k) người bạn trong đám. Ta chọn ra một người một cách ngẫu nhiên, gọi là  A. Trong đám bạn của  A, chọn ra một người ngẫu nhiên, B. Số bạn của B sẽ thường nhiều hơn số bạn của A.

Ai chưa biết xác suất, có thể tham khảo ví dụ sau. Chị W, hoa hậu thôn Trung, có 9 chàng trai đến tán. 9 chàng này làm mặt lạnh không thèm biết nhau. Ở đây N=10, b(1)=9 và b(2)=…= b(10) =1.
Nếu chọn ra ngẫu nhiên một người, với xác suất 90%, sẽ chọn ra một anh chàng. Anh này có nhõn một bạn (chị W) trong khi đó, bạn của anh, là chị W, có 9 người bạn.
Trong trường hợp tổng quát, chỉ dùng kiến thức cấp 3  có thể  chứng minh mệnh đề sau:
(1) Kỳ vọng của số bạn của A là K(A) = [b(1) +…+ b(N)] / N. Cái này hiển nhiên.

(2) Hơi khó hơn một tý: Kỳ vọng của số bạn của B là
K(B)= [ b(1) ^2 + …+ b (N) ^2 ]/ [b(1) + …+ b(N)].

Bất đẳng thức Cauchy cho thấy K(B) lớn hơn hoặc bằng K(A). Bài học rút ra là không nên GATO.
(Ai thích có thể wiki Friendship paradox.)

Nhật ký Yale: Ngày nịnh học sinh

Đàn ông ở đâu cũng khổ. Đi làm  nịnh sếp, về nhà nịnh bố mẹ.

Lớn lên lấy vợ, thì về nhà nịnh thêm vợ, và các ông/bà  con.

Lửa thử vàng, các giáo sư được thêm hân hạnh, là đến trường còn phải nịnh học sinh nữa.

Cũng may, cái sự nịnh học sinh, chỉ rơi vào một ngày trong năm.

Cái sự nịnh học sinh này, thật ra chỉ hay có ở các trường lớn. Các trường này có ganh đua được với nhau hay không, phụ thuộc vào chất lượng giáo viên đã đành, nhưng chất lượng học sinh cũng rất quan trọng.

Khoa toán ở Yale một năm tuyển vào chỉ chừng 5-7 sinh viên mới (sinh viên sau ĐH, làm bằng tiến sĩ), nhưng khi gửi offer đi, thường phải gứi một lúc cỡ độ 20 cái. Lý do dễ hiểu, các sinh viên lọt vào tầm ngắm hay có tới 3,4 offer khác từ các trường mạnh tương đương, nên cứ gửi 3 ,4 thư thường chỉ có một người  đến thôi.

Để quyến rũ được các cô cậu sinh viên sáng giá (ít nhất là trên giấy) này, các trường cạnh tranh nhau bằng mọi hình thức. Một trong những cách thông dụng nhất là mời các sinh viên được tuyển đến thăm trường một vài ngày.  Việc này dĩ nhiên khoa phải chịu hết phí tổn, kể cả vé báy may cho sinh viên đến từ nước ngoài.

Trong một hai ngày này, cả khoa tất bật như nhà có con gái lớn tuổi lại không quá xinh sắp tới ngày  ăn hỏi.  Các bà thư ký  đến sớm về muộn, lo chuyện kê bàn kê ghế, đặt khách sạn, thức ăn. Thường có một buổi buffet  để các sinh viên tương lai gặp gỡ các sinh viên hiện tại, đặng cập nhật tình hình thời sự của khoa.  Trong hai ngày đó, các giáo sư nhất loạt phải mặc quần áo đẹp (cụ thể là  hạn chế quần bò  đã sờn gấu và giầy  đi ba năm không thay). Áo phải dắt trong quần, đầu phải chải  và miệng  luôn nở nụ cười thân thiện, ra dáng hoạt bát vui tính, mềm mại dễ thương như các cô dâu sắp về nhà chồng.

Điểm nhấn của chương trình là màn trình diễn của các giáo sư. Mỗi năm khoa phân ra chừng 3,4 người, mỗi anh phải biểu diễn một bài gì đó cho đó cho sinh viên thấy tuyệt kỹ của bản môn. Bài giảng không được dài, chừng 20 phút (không các sinh viên tương lai sẽ mệt, ngủ mất), không được khó (để các bạn ấy có thể hiểu được) mà lại phải vừa hay vừa sâu. Xem ra còn vất vả hơn thổi cơm thi vừa bắt ếch  vừa dỗ con.

Các sinh viên nào thực sự quan tâm sẽ đi thêm bước nữa, là đến nói chuyện trực tiếp với một vài giáo sư  mà họ thích. Vì kỹ năng giao tiếp của phần lớn các nhà khoa học và các nhà khoa học tương lai đều ở mức thượng thừa,  một  cuộc nói chuyện tiêu biểu diễn ra như sau:

-Chào thầy !

-Chào em, mời ngồi.

Ngồi. Hai bên im lăng nhìn nhau trong  năm phút. Sau năm phút có hai tình huống xảy ra.

Tình huống một:

-Chào thầy !

-Chào em, chúc một chuyến bay tốt lành.

Tình huống hai, chỉ xảy ra khi giáo sư mau mắn hơn mức bình thường:

-Em thích làm nghiên cứu về lĩnh vực nào ?

-XYZ .

Thầy trò lại im lặng nhìn nhau,  phảng phất như  Chân Tử Đan và Lý Liên Kiệt trong phim Hero. Sau năm phút có hai tình huống xảy ra.

Tình huống một:

-Chào thầy !

-Chào em, chúc một chuyến bay tốt lành.

Tình huống hai, chỉ xảy ra khi học trò thực sự biết XYZ là gì, là họ sẽ nói chuyện chừng 15′ về  nó, và chia tay một cách lịch sự.

Đoạn kết: Không khí của ngày nịnh học sinh năm nay được cải thiện đáng kể, vì khoa đã mua một bàn bóng tay và tổ chức giải giao lưu giữa các sinh viên và giảng viên, và ta được thấy những nụ cười thật sự. Ý tưởng  bàn bóng tay kiệt xuất này đến từ một giáo sư mà danh tính, vì khiêm tốn, chúng tôi sẽ không tiết lộ. 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Người của một thời

Tháng 2 này là kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Xuân Diệu.

Nhà thơ Xuân Diệu, phần lớn người Việt Nam đều biết. Bọn chúng tôi, thưở  học trò mới lớn, ít nhiều đều chép vài bài của ông. Đặc sản Xuân Diệu là thơ tình, chủ yếu viết trước 1945. Nhưng đến thời tôi,  đem ra tán gái thế nào lại không hiệu quả. Có thể sở thích của nữ sinh dưới mái trường xã hội chủ nghĩa  nó khác, không chấp nhận các tư tưởng uỷ mị tiểu tư sản, hay là giọng  mình đọc lên nó không được du dương.  Hoặc  đơn giản là không có tiền mua ô mai ? Chịu ! Thế nào  nhớ nhất lại là bài Mũi Cà Mau (Tổ quốc ta như một con tàu. Mũi tàu ta đó mũi Cà Mau) vì là bài giảng văn trong sách giáo khoa.

Lúc tôi còn bé, ông hay qua 22 Trương Hán Siêu nói chuyện thơ văn với bố. Thuở đó, xe đạp là một gia tài. Ông có một cái xe khung bóng loáng, chắc là đồ ngoại. Nhà Trương Hán Siêu là kiểu nhà ống, ngày xưa một chủ ở, sau đó phân ra cho mấy gia đình,  mỗi gia đình một phòng. Hành lang rất hẹp nên dắt xe vào khó, ông phải để ở ngoài vỉa hè. Tôi được phân công nhiệm vụ trông xe. Mặc dầu đã khoá một cái khóa to kệch, nhưng cứ trông cho chắc. Vả lại được trông cái xe đẹp, tư thế cũng lên vài phần. Trẻ con hàng phố đi qua, mỗi đứa ngắm nghía bình luận vài câu, có anh lại đòi trèo lên ngồi thử một cái.

XD-VQP83

Xuân Diệu- Vũ Quần Phương (1983)

 

Nhà Trương Hán Siêu, có lẽ vì gần trụ sở báo Văn Nghệ và hội nhà văn, nên các cụ tiền chiến rẽ qua chơi nhiều. Bố bảo không được nói leo các cụ , nhưng ngồi nghe lỏm chuyện nào cũng hay. Nhưng Xuân Diệu vẫn hay nhất, vì chẳng những ông có tài diễn thuyết, mà chỉ có ông hay cho Văn kẹo. Những năm 70, kẹo vô cùng quí hiếm. Mà kẹo của ông lúc nào cũng độc đáo. Có một lần sinh nhật,  chắc độ 6,7 tuổi gì đó, ông cho mấy cái sô cô la. Đây là sô cô la của Pháp,  loại làm giống đồng tiền vàng, có chữ in nổi trên vỏ.  Nâng niu cất lên đặt xuống không dám ăn, để bày cho đẹp, rồi đem ra ngoài phố khoe với bạn, uy tín lên cao phải được mấy ngày.  Đến lúc mở ra ăn  thì nó bị chảy gần hết.

Khi bố tôi ra đời, Xuân Diệu  đã là lãnh tụ của thi đàn Việt Nam. Chẳng những ông có văn tài, mà kiến thức kim cổ cũng rất uyên bác.  Nhưng khi  nói chuyện với các nhà văn trẻ, thái độ ông rất trân trọng,   xưng hô đều dùng tên riêng. Cái kiểu anh anh chú chú nửa  trịnh thuợng nửa bỗ bã đang thịnh hành từ công sở đến quán bia hiện nay hồi đó tôi chưa từng nghe thấy. Xuân Diệu sống một mình, trong một căn phòng của một biệt thự trên phố Điện Biên Phủ. Ông tự nấu ăn, nồi niêu xoong chảo cái nào cũng be bé. Tự chăm sóc bản thân. Có lần ông  khuyên ông Phương đi thực tế ở địa phương này thì nên mua nhiều cà chua, vì ăn nó bổ. Mà muốn mua được nhiều, thi phải mua làm hai loại, cà chua chín rồi về ăn ngay, và loại xanh xanh để thêm được vài tuần.

Mùng một Tết Ất Sửu (1985), ông ăn Tết tại nhà tôi,  lúc đó đã chuyển vào khu tập thể Bách Khoa. Những năm đó không có khái niêm liên lạc bằng điện thoại. Sáng mùng một Tết, bố Phương lọc cọc đạp xe lên Điện Biên Phủ để chở ông xuống. Cùng lúc, thể nào ông lại nhờ được ông thông gia với nhà thơ Huy Cận đi xe máy chở lên. Hai ông đến thì chủ nhà không có nhà, lại kiêng cữ gì đó không dám vào xông đất, nhà thơ lớn cứ đợi co ro ở dưới gác. Chú tôi lại tức tốc đạp xe xuống Điện Biên Phủ để gọi ông anh về. Ông  mừng tuổi bố một mảnh vải để may áo,  bảo may sơ mi cộc tay thôi vì vải nó ngắn.  Đó là Tết cuối cùng của nhà thơ Xuân Diệu, ông mất cuối năm 85.

Thế hệ của Xuân Diệu ra đi,  qui củ hội nhà văn sau đó  cũng thay đổi dần, không còn như xưa nữa.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Làm dự án

Bài này là tiếp theo chuyện “Xuất bản”“Trích dẫn”, với mục đích giới thiệu công việc của các nhà khoa học. (Đang tạp chí Tia sáng số Tết con Khỉ 2016.)

NSF (National Science Foundation) là quỹ khoa học quốc gia của Mỹ. Nó được thành lập năm 1950, với mục đích là tài trợ các nhà khoa học tại Mỹ trong các nghiên cứu độc lập của họ. Hiện tại số tiền tài trợ hàng năm chừng 7 tỷ USD, trong đó hơn 80% là vào thẳng các dự án (grants) từ các trường đại học và viện nghiên cứu.

Đối với các giáo sư ở Mỹ, nộp dự án cho NSF (hay một số tố chức tương tự có qui mô nhỏ hơn) là việc  ích nước lợi nhà. Lợi nhà là một khi dự án  được chấp nhân tài trợ, nhà khoa học được thêm một hai tháng tiền lương, được tiền để tài trợ cho sinh viên, mua trang thiết bị và  đi  hội nghị. Hơn nữa, trường đại học được hưởng trực tiếp một khoản rất lớn từ tiền dự án của các giáo sư. Tuỳ từng ngành, số tiền này có thể lên đến 30% tới 50% (hay hơn nữa) giá trị của dự án.  Vì vây, các trường lớn có hẳn một đội nhân viên cứ đến mùa dự án là giục dã các giáo sư cho khỏi quên, và giúp họ nộp hồ sơ đúng thời hạn. Giáo sư có nhiều dự án  được tài trợ thường được trường đại học ưu ái. Ngoài danh tiếng và giá trị khoa học ra,  trong không ít trường hợp, số tiền trường thu  từ các dự án nhiều hơn lương của các giáo sư này rất nhiều. Bởi vậy, có nhiều dự án thành công là một yếu tố quyết định trong việc tuyển chọn hay thăng tiến ở các trường đại học. Nó cũng ảnh hưởng đến uy tín của nhà nghiên cứu trong con mắt đồng nghiệp.

Dự án quan trọng vậy, nên việc nộp và xét dự án khá kỳ công. Trong ngành toán,  cách đây chừng 15 năm, số người được duyệt chừng 1/3 số người nộp, hiện tại con số này chỉ còn 1/5,  tính cạnh tranh rất cao. Mỗi dự án thường có thời hạn ba năm, đôi khi trong một số trường hợp đặc biệt có thể dài hơn.

Phần nội dung của dự án có độ dài tối đa 15 trang, phần lớn người viết dùng hết giới hạn này, cộng thêm phần trích dẫn  từ 50 đến 150 bài báo. Nội dung phải đặt được các yêu cầu sau:

(0) Tóm tắt nội dung và thành tựu của dự án vừa hoàn thành (nếu có).

(1) Nêu các vấn đề sẽ được nghiên cứu một cách mạch lạc.

(2) Giải thích tại sao các vấn đề này lại hay và quan trọng.

(3) Các phuơng pháp và ý tưởng đã được dùng để tấn công vấn đề này hay các vấn đề tương tự. Mặt mạnh và hạn chế của các phương pháp này.

(4) Đề cập được một số phương pháp hay ý tưởng mới.

(5) Ứng dụng và đào tạo.

Một số khó khăn của  việc viết dự án:

(A) Chọn vấn đề. Nếu vần đề  tầm thường, không được nhiều người quan tâm, thường rất khó được chấp nhận. Vấn đề mà về cơ bản đã được giải quyết rồi, dự án chỉ làm thêm một số bước kỹ thuật thường cũng không được ủng hộ. Nhưng nếu vần đề nổi tiếng quá, rất dễ bị đặt câu hỏi “nhưng anh/chị ấy đã bao giờ giải quyết được các vấn đề lớn tương tự chưa ?”

(B) Cách diễn giải.  Dự án phải được viết  rất mạch lạc, dễ hiểu.  Mấu chốt ở đây là ban duyệt dự án sẽ gồm chừng 10-15 thành viên, và nếu may mắn chỉ có một hai người cùng chuyện ngành hẹp với bạn thôi. Nếu người đọc  không hiểu thì đó là lỗi của người viết. Bạn có thể vùng vằng “ngôn ngữ toán học  của tôi cao quá, uỷ ban không hiểu”, đó là việc của bạn, còn việc uỷ ban không duyệt thì đó là việc của họ.

(C) Hiệu quả trong ứng dụng và đào tạo. Ở các trường đại học, nghiên cứu đi liền với giảng dạy, nên dự án cần chỉ ra tác dụng của việc nghiên cứu trong lĩnh vực này. Điều này một phần nào bắt buộc các gíao sư mang những kiến thức mới nhất đến cho sinh viên.  Trong thời gian gần đây, hiệu quả ứng dụng của công trình, ngay cả trong những lĩnh vực được coi là lý thuyết như toán cũng rất  được coi trọng.

 

Viết một dự án kỹ  lưỡng rất tốn thời gian. Ngay cả những nhà nghiên cứu hạng nhất, khi viết dự án, cũng thường mất đến cả tháng. Tuy nhiên, một tháng đó cũng rất có lợi cho họ, ở chỗ họ có thời gian cân nhắc kỹ càng các đề tài, đề tài nào khả thi, đề tài nào có thể làm với ai, đề nào nào thích hợp với sinh viên nào. Vô hình chung, nó tạo  ra một kế hoạch  làm việc khá cụ thể cho tương lai.

Như đã nói ở trên, việc xét dự án thông qua các uỷ ban ngành (panel). Các uỷ ban ngành do NSF chọn ra, thường có từ 10-15 người và thay đổi hàng năm. Một ngành khoa học lớn (như Toán hay Vật Lý) có thể có tới cả chục uỷ ban ngành cho các hướng nghiên cứu khác nhau (chẳng hạn có các uỷ bang riêng biệt cho đại số, xác suất, hình học).  Uỷ ban thường họp vào cuối năm, là mùa bận rộn của NSF.  Các thành viên đến trụ sở NSF ở Arlington, một thị trấn ngoại vi thủ đô Washington, họp kín chừng 3 ngày liền. Để bảo đảm tính công bằng, NSF có những nguyên tắc   chặt chẽ, chẳng hạn khi thảo luận dự án của giáo sư A, tất cả những thành viên có  liên hệ với A (như người cùng trường, thầy giáo hay học sinh cũ, hay người cùng nghiên cứu trong vòng 4 năm) không được tham gia vào cuộc thảo luận và không được bỏ phiếu. (Đơn giản là họ bị mời ra ngoài hành lang.) Những nhà nghiên cứu trẻ, đang bắt đầu sự nghiệp khoa học, thường có một số ưu thế trong bước xét duyệt. Ngoải ra, còn có những loại dự án chỉ dành cho những người trẻ tuổi, đôi khi dưới dạng một giải thưởng (như NSF Career Arward).

Gần đây, chúng ta có quỹ Nafosted (National Foundation for Science and Technology), với mục đích tương đồng với NSF. Đây là một bước tiến rất quan trọng, đáng khích lệ,  trong việc đẩy mạnh phát triển nghiên cứu tại Việt Nam.   Dĩ nhiên, do chênh lệch giữa  hai nước, số tiền giành cho mỗi dự án ở Việt Nam (về giá trị tuyệt đối) không thể so với Mỹ. Nhưng nếu tính  tương đối (dựa theo thu nhập trung bình) thì sự trợ giúp của Nafosted rất có giá trị.

Về cơ bản, hai quỹ hoạt động khá giống nhau. Nhưng ở một số bước, có sự khác biệt.  Môt số lần tôi được mời phản biện cho các dự án Nafosted, thì thấy nội dung viết rất sơ sài. Các dự án đều  hết sức ngắn, từ 1 đến 2 trang,  đọc rất khó hiểu, hay đôi khi không có gì để hiểu hay thảo luận cả. Không biết tình hình được cải thiện chưa nhưng không thể biết những  dự án như vậy  sẽ được thông qua hay bác bỏ trên cơ sở gì.

Thành công của dự án, đôi khi được xét trên số bài đăng ở tạp chí ISI. Tiêu chí này hơi khiên cưỡng, vì nhiều tạp chí ISI giá trị khoa học rất kém. Vì vậy chỉ đếm số bài có thể dẫn đến việc phấn đấu đạt chuẩn một cách hình thức. Một bài báo nếu đã đăng trong vòng 3-5 năm mà không có ai sử dụng hay trích dẫn, thì dù đăng ở tạp chí nào, giá trị khoa học của nó cũng rất đáng hồ nghi.

Việc phải hoàn lại (một phần)  tiền trong trường hợp không thành công, có thể  làm người nghiên cứu, nhất là các nhà nghiên cứu trẻ chưa có kinh nghiệm, rất do dự khi nộp dự án, và vô tình tạo ra quyền lực cho những người nghiệm thu dự án. Thông qua dự án là chấp nhận đầu tư vào nhà khoa học, và đầu tư thì ở đâu cũng có thể có rủi to. Ở NSF, một dự án không thành công đơn giản sẽ làm cho các dự án tiếp theo rất khó được chấp thuận. Đó là một cái giá rất nặng buộc các nhà nghiên cứu phải toàn tâm toàn ý với dự án của mình.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giáo sư phiêu lưu ký: Cancun (2)

Ở Cancun, có nhiều du khách ở khách sạn loại trọn gói.

Khách sạn trọn gói bao gồm cả chỗ ở, ăn, uống, giải trí. Đại loại là bạn trả một khoản tiền, thì đến nơi có phòng ở, trong khách sạn phục vụ đánh chén cả ngày, từ 7 giờ sáng đến 11 giờ đêm.  Ban ngày thì có hoạt náo viên tổ chức trò chơi, thi đấu thể thao, tối đến thì có show ca hát, ảo thuật. Nó thích hợp với các gia đình bố mẹ đi với con cái, nhất là cái khoảng ăn uống.

Đã đến lúc ta phải cay đắng mà tự nhủ thầm là mình đã vào cái  tuổi nửa già nửa trẻ. Già là vì khi  bạn  ra ngồi bể bơi, nghe các nam thanh nữ tú tán chuyện, được dăm mười phút bạn hoài nghi “sao chúng nó lại có thể nói những cái chuyện tầm phào đến như thế nhỉ ?” Bạn đã quên khuấy hai việc. Thứ nhất là mục tiêu cuối cùng của những câu chuyện bể bơi này không phải để viết lại lịch sử Trung Đông hay tìm ra hướng đi mới cho  kinh tế Nhật Bản. Thứ hai, cách đây 20-25 năm, những chuyện bạn đã nói cũng đáng chán đến phát ngượng lên.  Giá thử có ai ghi âm lại, thì chắc chắn chỉ còn một cách là  đổ cho âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch.  Còn trẻ là vì bạn  luôn luôn được nhắc nhở rằng là vẫn còn rất nhiều năm để trả học phí cho các ông/bà con, để chúng đi học, và  để trong kỳ nghỉ đông chúng có thể  ra bể bơi tán phét những câu chuyện dở òm mà bạn đang phải nghe.

Ở cái độ tuổi dở hơi này, nhu cầu ăn uống tự nhiên trở nên tế nhị. Nửa già bảo bạn là không thể ăn nhiều ăn tạp như ngày xưa được nữa, còn nửa còn trẻ kia vớt vát thúc đẩy bạn hãy thử những món ăn mới lạ. Giải pháp, như ta đã biết, là  cần đến những nhà hàng đặc sản, ăn ít nhưng mà tinh, mà đặc biệt, Tây gọi là  “fine dining”.

Một buổi tối fine dining thường diễn ra như sau. Bạn  ăn mặc đẹp, đến một nhà hàng không nhỏ quá mà cũng không lớn quá. Nến lung linh, khăn bàn trắng muốt cùng một số lượng thìa dĩa đủ dùng cho một gia đình bốn người. Bạn ngồi xuống, hầu bàn cung kính đem thực đơn dầy cộp ra, món nào món ấy toàn những tên dài ngoằng mà nửa số từ bạn chưa nhìn thấy bao giờ. Với một cử chỉ sành điệu, bạn ra dáng suy tư rồi chỉ vào món có tên dài nhất, mà nếu để hiểu một cách đầy đủ  các thành phần trong nó, khách cần biết ít nhất hai ngôn ngữ có gốc latin, và sở hữu một bằng master về thực động vật học. Thật tình là trong cái đống từ loằng ngoằng đó, bạn chỉ hiểu có “organic” thôi. Organic, thì hẳn phải ngon và tốt. Vả lại, căn cứ theo giá tiền, nếu món này không ngon và tốt, thì chủ quán rất xứng đáng bị treo cổ.

Hầu bàn nghiêng mình, nhìn bạn lần nữa, như có ý thán phục vị khách lịch lãm, rồi đi thằng vào trong. Bạn đắm mình trong tiêng nhạc êm dịu và  vị thơm nhè nhẹ toả ra từ bếp. Chừng nửa tiếng sau, hầu bàn mặt mày hoan hỉ, trịnh trọng đặt xuống bàn một chiếc đĩa sứ, hoa văn thanh nhã. Một bên nửa đĩa có mấy cọng mỳ vàng óng, cùng một mớ rau củ rườm rà, mà như nói ở trên, nếu không có kiến thức sau đại học  về thực động vật học, thì tốt nhât không nên hỏi chúng là gì. Nửa bên kia đĩa, có hai loại nước sốt, một xanh lơ, một đỏ mận. Ở giữa nước sôt, mỗi bên một màu, là hai chú ốc sên to kếch, trong đó có một chú trông còn  đang ngọ nguậy, như cố níu kéo lấy những milimet cuối cùng của cuộc sống. Nếu không có con mắt nghiêm nghị của anh hầu bàn như đang nhìn theo bạn, thì bạn đã đặt béng con ốc sên tội nghiệp đó xuống sàn cho nó muốn bò đi đâu thì bò….

Vì ăn uống oái oăm như vậy, nên ngồi chung với trẻ con là rất khó, vì chúng không thích ốc sên. Chúng thích những món mà chỉ số calo làm cho bạn phát ngất. Bởi vậy, khách sạn trọn gói là một giải pháp khá trọn vẹn cho tất cả các bên, ai thích ăn gì thì ăn, tự đi mà lấy. Khách sạn lúc nào cũng mở một lúc 3 phòng ăn, cho đủ loại yêu cầu. Tuti chỉ ăn pizza cho nhanh rồi chạy biến ra biển, sau một tuần, cu cậu  đen ngòm và gầy đi trông thấy. Được cái đi đâu cũng có dăm ba đàn em, chắc là gốc Tàu, đi theo điếu đóm, chắc hẳn do cu cậu cao nhất hội.  Biển mùa này vẫn ấm, nhưng sóng rất mạnh, các chị béo, hiển nhiên đến từ nước Mỹ, cũng bị đánh sấp ngửa.

 

Trong khách sạn đáng kính phục nhất là đội ngũ hoạt náo viên. Toàn các thanh niên cỡ 20-30 tuổi, tiếng Anh rất trôi trảy.  8 giờ sáng đã thấy họ hướng dẫn tập thể dục và yoga cho các bà các cô dậy sớm. Từ 11 giờ trưa đến 3 giờ chiều là đủ các trò chơi ở bể bơi. Sau 4 giờ là thể thao. Đến tối, hôm nào không có các đội ca nhạc chuyên nghiệp đến biểu diễn, thì họ tự nghĩ ra vài tiết mục, tuy cây nhà lá vườn nhưng cũng xôm trò. 10 giờ đêm còn có một đội dẫn những ai thích disco đi nhảy trong thành phố. Và suốt mười mấy tiếng đồng hồ đó, lúc nào trên miệng họ cũng nở một nụ cười.

 

Giáo sư phiêu lưu ký: Cancun (I)

Cancun là thành phố nghỉ mát của Mexico, cách Miami độ hơn một giờ bay về phía Tây Nam.

Cancun gồm hai phần, phần dành cho du khách (chủ yếu từ Mỹ), và phần người Mexico sinh sống.

Phần du khách là một dải đất dọc biển, cả hai bên đều có nước, dài chừng 20km. 30 năm trước, cả khu này vẫn còn là một khoảng rừng mênh mông. Hiện thì một bên gồm toàn các khách sạn, resort, chỗ mua sắm, bên kia là sân gòlf và công viên.  Cả 20km đó chỉ có một bãi tắm công cộng dành cho dan thành phố, còn lại là các bãi riêng của khách sạn. Người Mexico không sống ở đây, họ đi xe bus vào đi làm, tối đi về. Sáng chừng 8 giờ dậy đi bộ, du khách phần đông còn ngủ cả, chỉ có người làm ở các khách sạn đổi ca, kẻ đến người đi. Một  vài chiếc xe hơi đỗ ngay cổng các khách sạn, chủ xe mở hòm xe, đầy thịt nướng bánh mì, bán ngay tại chỗ cho nhưng người bắt đầu vào ca sáng.

Trong khu du lịch, du khách không cần dổi tiền, dùng ngay dollar cũng được. Cửa hàng thì có từ Starbuck cho tới 7/11, nghĩa là đủ cả. Chỉ khi ra khỏi cái 20km này, Mexico mới thực sự bắt đầu.

Phương tiện giao thông khá tiện lợi ở Cancun là xe bus. 10 peso (17 peso=1 USD) một vé, đi đến đâu cũng được. Ra khỏi khu khách sạn, quang cảnh khác ngay. Nhà trong thành phố chủ yếu là hai tầng, sơn trắng, thành hàng lối nhưng cũng chẳng cái nào giống cái nào.  Xe bus đi đến một khu chợ, market 28, rồi dừng lại không đi tiếp nữa. Chợ chủ yếu bán đồ cho du khách, mặc cả thoải mái, theo phong cách Hàng Ngang Hàng Đào. Trong chợ nhiều hàng ăn. Phía trong là  loại trông sạch sẽ, có thực đơn in đẹp, chủ yếu cho người trung lưu trong thành phố và khách,  ở ngoài là  quán vỉa hè, 1 dollar một suẩt thịt nướng. Du khách lân la ra một quán vỉa hè, nơi có vài thanh niên da ngăm ngăm mặc may ô đang nhấm nháp. Bỗng nhiên đầu phố hai mô tô cảnh sát nhô ra, từ từ  đi lại. Cảnh sát này là đặc nhiệm, kiểu trong phim Sicario (nếu bạn chưa xem thì nên  thử, ngôn ngữ điện ảnh rất ấn tượng), người như sắt lại, chứ không phải cảnh sát béo tốt đứng tuýt còi ở đầu phố. Xe màu đen,người ngồi xe  quần áo cũng đen tuyền, tiểu liên chéo qua lưng, súng lục  ngang đùi. Mô tô chầm chậm đi qua nhà hàng, cảnh dát chằm chằm nhìn thanh niên vài giây, thanh niên hững hờ nhìn lại. Du khách tự dưng thấy sống lưng lạnh lạnh, thôi quay lại cửa hàng phía trong cho nó lành…

Vào phía trong thì lại gặp vấn đề khác, chính là hiệu ứng Triệu Việt Vương. Có chừng mười nhà hàng liền nhau, thực đơn nhà nào cũng hao hao, mỗi nhà cử ra vài đại diện ra kéo khách. Chưa đến mức dắt tay khách tống thẳng vào trong, nhưng thoát ra cũng không dễ. Cửa hàng đầu hồi xem ra làm ăn khá nhất, vì đội hướng dẫn viên là ba thanh niên cao to đẹp trai, tiếng Anh lại rất khá. Các bà các cô đến đây là đẩy nhau vào luôn, không thèm nhìn sang cửa hàng bên cạnh  đội ngũ chỉ gồm hai trung niên hom hem, mặc dầu thực đơn có cá rán đang đại hạ giá.

Thức ăn Mẽxico hơi khô, nhiều bột và đậu. Được cái đồ uống rất phong phú. Chừng 30 peso một cốc nước hoa quả ép, hoa quả tươi thật chứ không phải bột màu, chừng tới hơn nửa lít. Chủ quán ngồi cạnh nhà bếp, duỗi chân ra ghế, phe phẩy chiếc quạt.

Xe bus đi về mới thật gian nan, vì bến đi và bến về không mang tý đối xứng nào, như thường thấy ở châu Âu hay bất kỳ nơi nào khác. Bến đi ở phố A, còn bến về ở phố B vuông góc với A. Du khách dĩ nhiên nằm mơ cũng không tưởng tượng ra cái oái ăm đó. May thay, xe bus lại có lơ xe. Lơ xe là một bé con chừng 12-13 tuổi, không khéo chính là con tài xế. Thấy du khách đang  đờ đẫn, nó chạy ngang qua đường dắt sang tận nơi. Biếu cu cậu 10 peso, nó cưòi toét miệng. Cứ đến bến nào xe đỗ lại, là anh lơ chạy xuống, trong vòng phạm vi 100-200m có du khách đứng nghệt mặt là nó ra chỉ đường. Có người lên xe, có người không, chẳng biết bác tài có được ăn thêm vào phần tiền vé ?

Đi xe bus có một cái thú mà ở Mỹ ít gập, là tự dưng được có chung  một quãng đường cạnh một người xa lạ, mà số phận của họ chắc ta không bao giờ rõ.  Khi thì là một cụ già, mặt mày rắm nắng, đăm chiêu. Khi thì một bác trung niên vuông chằn chặn, ra chiều vui tính. Khi thì một chị mũm mĩm cắm cúi  vào màn hình điện thoại. Đường  thì mới, nhưng xe thì lại cũ, thành ra đi  vẫn rung bần bật. Xe rung một, chị rung hai, du khách cộng hưởng, rung thành ba bốn….

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 437 other followers